HAI TÁC PHẨM Y HỌC THẾ KỶ XV
Bản thảo thực vật toản yếu và Bảo anh lương phương là hai tác phẩm y học thế kỷ XV xưa nay ít người chú ý tới(1). Có lẽ, sau Nam dược thần hiệu, Hồng nghĩa giác tư y thư
của Tuệ Tĩnh (XIV), những tác phẩm y học có mặt sớm nhất ở ta(2), là
đến hai tác phẩm trên (Căn cứ vào tình hình tư liệu lưu trữ tại Viện
Nghiên cứu Hán Nôm). Một điều khá lý thú là hai tác phẩm vừa nêu đều là
của hai tác giả khá nổi tiếng thế kỷ XV: Nhà sử học, nhà văn Phan Phu
Tiên và nhà đại khoa Trạng nguyên Nguyễn Trực. Như thế, Bản thảo thực vật toản yếu và Bảo anh lương phương
không như những tác phẩm y học khác do các danh y biên soạn. Nhưng có
phải vì thế mà tác phẩm kém giá trị không? Để trả lời câu hỏi này xin
lần lượt khảo sát nội dung hai tác phẩm.
I. Phan Phu Tiên và Bản thảo thực vật toản yếu.
Phan Phu Tiên, tự Tín Thần, hiệu Mặc Hiên, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Không rõ năm sinh năm mất. Ông đỗ Thái học sinh khoa Bính Tý đời Trần Thuận Tông (1396). Đến năm Kỷ Dậu, niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1429), lại đỗ khoa Minh Kinh, làm quan đến Quốc sử viện Đồng tu Quốc sử, rồi ra làm An phủ sứ Thiên trường, sau thăng Quốc tử giám Bác sỹ. Tác phẩm của ông có:
- Đại Việt sử ký tục biên, chép nối theo Lê Văn Hưu từ đời Trần Thái Tông (1225 - 1258) đến đời Trần Trùng Quang (1409 - 1413).
- Việt âm thi tập 6 quyển. Đây là bộ Hợp tuyển văn học đầu tiên của nước ta tập hợp thơ văn từ đời Trần đến đời Lê sơ (thế kỷ XV) gồm 119 nhà, 624 bài(3); Và 3 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.
- Bản thảo thực vật toản yếu: 1 quyển chép tay, chữ viết chân phương. Sách khổ 31x21cm, gồm 90 tờ, tờ 18 dòng, dòng 20 chữ. Toàn văn chữ Hán có xen chữ Nôm. Sách do Học viện Viễn đông Bác cổ mới chép lại hồi trước Cách mạng tháng Tám. Bài tựa do chính tác giả viết. Nguyên văn dịch như sau:
Bài tựa tập Bản thảo thực vật toản yếu
“Dược vật (vật làm thuốc”, trị cho người mắc bệnh, còn thực vật (vật để ăn), trị người chưa mắc bệnh. Người thuận với lẽ sống, lấy đó làm phép dưỡng sinh (nhiếp sinh) vậy. Có lẽ, cái ăn, cái uống là nhu cầu lớn nhất của con người. Cho nên, người giầu sang, cao lương mỹ vị không bao giờ chán, ắt dùng vị ngon làm cái kế cho mồm bụng, mà đối với các tính hàn, ôn, bình, nhiệt, không được xét xem có hợp với tỳ vị hay không. Người mắc bệnh, không chịu nổi đam lạc, hoặc dùng vị ngon làm sở thích cho bữa ăn, không nghe theo những gì phải ăn kiêng, không câu nệ bởi những gì trong sách đã cấm kỵ, dẫn đến “hoãn tì luyến tạng”, “trợ thấp thì sinh viêm”, mà hàng ngày nhu cầu ăn uống không biết điều dưỡng, phẩm chất của nguyên khí vì thế mà xử lý không tinh, cho nên, luôn luôn có sự sai lầm, thất thố. Người đời phần nhiều cũng đều như vậy cả.
Tôi bình sinh học thức nông cạn, thô lậu, hiểu ít, hàng ngày ăn uống, đôi khi ngẫu nhiên dùng quá. Đến khi nghiên cứu sách thuốc, mới biết được điều đó. Nhân đem sách Bản thảo của các nhà, nhặt lấy những phần “thực vật”, phân loại mà biên soạn. Chua, cay, ngọt, mặn, đắng, xét kỹ 5 vị; lạnh, nóng, thấp, bình, làm rõ bốn tính, và các loại độc, không độc, hợp nhau hay kỵ nhau, cùng với phép giải độc ngộ thực, không có chỗ nào là không xem xét kỹ lưỡng và ghi chép đầy đủ. Lại lấy Bản thảo cương mục làm “tông”, tham khảo Bảng thảo của các nhà. Đến như tên gọi của thảo mộc côn trùng, điểu thú, đều được giải nghĩa bằng tiếng nước nhà, để cho người bình thường xem đến đều tiện biết. Đây cũng là quyển sách tập thành của nhà y, gọi là “thuật nhi bất tác” tin và hiếu cổ vậy. Bèn viết bài tựa”.
Đọc bài tựa, thấy ngay ý đồ biên soạn của tác giả là chú ý đến “thực vật” nghĩa là chú ý đến việc ăn uống sao cho hợp lý, đáp ứng được sự đòi hỏi của cơ thể con người, không dùng quá mức và mong cho bộ sách này được phổ biến rộng rãi cho nhiều người cùng biết. Sách viết ngắn gọn, dễ hiểu. Các loại động vật, thực vật được sắp xếp theo bộ, mỗi bộ gồm nhiều loài:
- Cốc bộ (bộ lúa gạo): 64 bài.
- Thái bộ (bộ rau): 91 loài.
- Quả bộ (bộ quả): 84 loài
- Cầm bộ (bộ chim): 77 loài
- Thú bộ (bộ thú vật): 44 loài
- Ngư bộ (bộ cá): 60 loài
- Giới bộ (bộ có vảy): 7 loài.
Ở mỗi loài, tác giả đều nói rõ tính năng và công dụng của chúng, gồm tên chữ Hán và tên Nôm(2), giải thích cặn kẽ từng loại để phân biệt cho đúng, dùng cho hiệu quả. Ví dụ:
- Canh mễ 粳 米 : loại dính gọi là “nọa mễ” (gạo mềm), loại cứng gọi là “canh mễ” (gạo cứng), tục gọi là “gạo tẻ trắng”, vị ngọt, tính bình, không độc. Công dụng: ích khí, chỉ phiền, ngừa khát, sinh cơ, khoẻ gân cốt, ích tỳ vị, thông huyết mạch, hoà ngũ tạng, làm đẹp nhan sắc, thính tai, sáng mắt...
- Đạo 稻 : còn có tên là “nọa mễ”, tục gọi là “lúa nếp”.
- Hương canh mễ 香 粳 米 : tục gọi là “nếp cái”, vị ngọt, chất mềm, mùi thơm, bổ tinh huyết.
Thuộc Thái bộ:
- Đông phong thái 東 風 菜 : mọc vào đầu mùa xuân, nên có tên gọi là “đông phong” (gió ấm), cũng gọi “đông phong” 冬 風 (gió mùa đông), tức là được cái khí của màu đông, lá giống lá mận nhưng dài hơn, dầy hơn, mềm, trên có lông nhỏ, gân tía, nấu canh ăn, vị ngọt lạnh, không độc, chữa ung nhiệt, đầu thống, mắt hoa, gan nóng, phụ nữ có chửa, nấu canh ăn với thịt rất tốt.
- Hiện 莧 : tục gọi “rau dền”, vị ngọt lạnh, không độc. Rau dền trắng bổ khí, thông cửu khiếu, trừ lỵ. Rau dền tía sát trùng, trị khí. Các loại rau dền đều lợi đại tiểu tràng, trị sơ lỵ, hoại thai. Phàm ăn nhiều rau dền thì động khí, khiến người ta phiền muộn...
- Địa đinh (地 丁 ): tục gọi “rau bồ công anh”, vị ngọt, tính bình, không độc, trừ nhiệt, chữa ung thư vú.
Thuộc Quả bộ
- Ngũ liễm tử 五 斂 子 : còn có tên “ngũ lăng tử” 五 棱 子 và “Âm đào” 陰 桃 , tục gọi là “quả khế”, vị ngọt, chua, tính bình, không độc, trị phong nhiệt, sinh tân dịch, ngừa khát...
- Chư tử 儲 子 , tục gọi “hột gắm”, vị đắng, tính bình, không độc, ăn vào không đói, trừ khát, phá huyết độc, ăn sống thì đắng, rang chín thì ngọt, kỵ ngọt và chua, hơi lạnh, không được ăn nhiều.
- Trăn thực 榛 實 : tục gọi “hột chỉ”, vị ngọt, tính bình, không độc, ích khí lực, vào tỳ vị khiến người ta không đói, hành quân ăn thay lương thực...
Những loại dược liệu kê ra ở đây hoàn toàn là những động vật và thực vật có tại nước ta, như: gạo nếp, nếp cái, nếp hương, nếp cẩm, ngô, tiểu mạch, gạo tám, lúa dự, gạo lồng vực, ý dĩ, đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh, đậu trắng, đậu ván trắng hột, đậu ván đen hột, đậu phụ, mạch nha, rau hành, kiệu, rau cải, cải trắng, rau xương cá, rau vi, củ từ, măng, quả bầu, bí, bầu lào, dưa gang, dưa bở, mướp đắng, mộc nhĩ, nấm tai mèo, nấm đất, nấm đá, tía tô, rau má, đào, mận, mơ, táo chua, lê, quả gạo, quả mật, hồng, cậy, cam sành, cam chanh, bưởi, vải, nhãn, trám đen, trám trắng, cái hạc, cái diệc, cái cò, cái vạc, gà mái đen, gà mái vàng, chim trĩ, trĩ trắng, cái đa đa, bồ câu non, chim ri, chim yến, cái công, chim bà cắt, con lợn, con chó, dê, bò, lợn lòi, hươu, nai, hoẵng, mèo, cóc, vượn, thỏ, chuột, khỉ, cá chép, cá thu, cá mè, cá chiên, cá ngạo, cá đầu đá, cá mối, cá anh vũ, cá bống, cá cấn cấn, cái cá chiên, cái giải (cua), cái hầu (sò), cái ba ba v.v..., gồm 437 loài tất cả.
Trải trên bốn thế kỷ, văn bản ắt nhiều phen thay đổi, sửa chữa bổ sung. Văn bản hiện còn đến ngày nay, chắc cũng khác xa với nguyên bản, nhất là về mặt chữ viết, tên dược liệu... ở đây có sử dụng một ít chữ Nôm, xét thấy đều là chữ Nôm đời sau, trừ một số chữ còn để lại đôi nét viết theo lối cổ, như đã từng xuất hiện trong Hồng Đức Quốc âm thi tập thế kỷ XV, như: chim “bà cắt” tức là “chim cắt”, giống như từ “bà ngựa” tức là “con ngựa” dùng trong Hồng nghĩa giác tư y thư của Tuệ Tĩnh. Hoặc dùng từ đôi không biến âm như: chim chích chích, cái đa đa, cá cấn cấn. Hoặc vẫn sử dụng từ cổ như từ “cái” thay cho từ “con”. Cái giải (con cua), cái vượn (con vượn), cái cáo (con cáo), cái ba ba (con ba ba), cái vẹt (con vẹt), cái cò, cái vạc (con cò, con vạc) và đặc biệt: cái giá (rau giá) v.v... Hoặc đôi chỗ dùng từ “cả” thay cho “to”: lúa mạch cả bông (lúa mạch to bông), kê nếp cả hột (kê nếp to hột) v.v...
Ngoài ra, khi sao chép lại, người đời sau có lẽ đã bỏ bớt từ cho gọn, như “tục gọi là”, thường lược đi chữ “gọi”: “Chiên ngư, tục là cái cá chiên”, “Xích tiểu đậu, tục là đậu đỏ...” Rất có thể, chữ “gọi” bị lược đi ấy được viết bằng từ cổ “ốc” hoặc “hiệu”?
Như vậy, mặc dù văn bản đã thay đổi nhiều lần nhưng những yếu tố ban đầu (tác giả đã sử dụng thế kỷ XV) vẫn còn đọng lại đôi chỗ, là bằng chứng giúp ta khẳng định tác phẩm hiện còn là của Phan Phu Tiên.
Như thế, Phan Phu Tiên không những là nhà sử học, văn học nổi tiếng, mà còn là nhà nghiên cứu y học nữa. ở thế kỷ XV, những trước thuật về y học còn rất hiếm, Bản thảo thực vật toản yếu của Phan Phu Tiên ra đời là một đóng góp cho nền y học cổ truyền của dân tộc, phản ánh sự tiến bộ của cha ông ta đã nhận thức rất sớm về tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Như trên đã thấy, Bản thảo thực vật toản yếu không nhằm giới thiệu cái dược liệu dùng để làm thuốc chữa bệnh cụ thể, mà chủ yếu chỉ giới thiệu những động vật và thực vật thông thường, cùng tính năng và công dụng của chúng, giúp tác dụng đúng lúc, đúng chỗ, nhằm ngăn ngừa và chữa trị những bệnh tật của con người ...
I. Phan Phu Tiên và Bản thảo thực vật toản yếu.
Phan Phu Tiên, tự Tín Thần, hiệu Mặc Hiên, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Không rõ năm sinh năm mất. Ông đỗ Thái học sinh khoa Bính Tý đời Trần Thuận Tông (1396). Đến năm Kỷ Dậu, niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1429), lại đỗ khoa Minh Kinh, làm quan đến Quốc sử viện Đồng tu Quốc sử, rồi ra làm An phủ sứ Thiên trường, sau thăng Quốc tử giám Bác sỹ. Tác phẩm của ông có:
- Đại Việt sử ký tục biên, chép nối theo Lê Văn Hưu từ đời Trần Thái Tông (1225 - 1258) đến đời Trần Trùng Quang (1409 - 1413).
- Việt âm thi tập 6 quyển. Đây là bộ Hợp tuyển văn học đầu tiên của nước ta tập hợp thơ văn từ đời Trần đến đời Lê sơ (thế kỷ XV) gồm 119 nhà, 624 bài(3); Và 3 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.
- Bản thảo thực vật toản yếu: 1 quyển chép tay, chữ viết chân phương. Sách khổ 31x21cm, gồm 90 tờ, tờ 18 dòng, dòng 20 chữ. Toàn văn chữ Hán có xen chữ Nôm. Sách do Học viện Viễn đông Bác cổ mới chép lại hồi trước Cách mạng tháng Tám. Bài tựa do chính tác giả viết. Nguyên văn dịch như sau:
Bài tựa tập Bản thảo thực vật toản yếu
“Dược vật (vật làm thuốc”, trị cho người mắc bệnh, còn thực vật (vật để ăn), trị người chưa mắc bệnh. Người thuận với lẽ sống, lấy đó làm phép dưỡng sinh (nhiếp sinh) vậy. Có lẽ, cái ăn, cái uống là nhu cầu lớn nhất của con người. Cho nên, người giầu sang, cao lương mỹ vị không bao giờ chán, ắt dùng vị ngon làm cái kế cho mồm bụng, mà đối với các tính hàn, ôn, bình, nhiệt, không được xét xem có hợp với tỳ vị hay không. Người mắc bệnh, không chịu nổi đam lạc, hoặc dùng vị ngon làm sở thích cho bữa ăn, không nghe theo những gì phải ăn kiêng, không câu nệ bởi những gì trong sách đã cấm kỵ, dẫn đến “hoãn tì luyến tạng”, “trợ thấp thì sinh viêm”, mà hàng ngày nhu cầu ăn uống không biết điều dưỡng, phẩm chất của nguyên khí vì thế mà xử lý không tinh, cho nên, luôn luôn có sự sai lầm, thất thố. Người đời phần nhiều cũng đều như vậy cả.
Tôi bình sinh học thức nông cạn, thô lậu, hiểu ít, hàng ngày ăn uống, đôi khi ngẫu nhiên dùng quá. Đến khi nghiên cứu sách thuốc, mới biết được điều đó. Nhân đem sách Bản thảo của các nhà, nhặt lấy những phần “thực vật”, phân loại mà biên soạn. Chua, cay, ngọt, mặn, đắng, xét kỹ 5 vị; lạnh, nóng, thấp, bình, làm rõ bốn tính, và các loại độc, không độc, hợp nhau hay kỵ nhau, cùng với phép giải độc ngộ thực, không có chỗ nào là không xem xét kỹ lưỡng và ghi chép đầy đủ. Lại lấy Bản thảo cương mục làm “tông”, tham khảo Bảng thảo của các nhà. Đến như tên gọi của thảo mộc côn trùng, điểu thú, đều được giải nghĩa bằng tiếng nước nhà, để cho người bình thường xem đến đều tiện biết. Đây cũng là quyển sách tập thành của nhà y, gọi là “thuật nhi bất tác” tin và hiếu cổ vậy. Bèn viết bài tựa”.
Đọc bài tựa, thấy ngay ý đồ biên soạn của tác giả là chú ý đến “thực vật” nghĩa là chú ý đến việc ăn uống sao cho hợp lý, đáp ứng được sự đòi hỏi của cơ thể con người, không dùng quá mức và mong cho bộ sách này được phổ biến rộng rãi cho nhiều người cùng biết. Sách viết ngắn gọn, dễ hiểu. Các loại động vật, thực vật được sắp xếp theo bộ, mỗi bộ gồm nhiều loài:
- Cốc bộ (bộ lúa gạo): 64 bài.
- Thái bộ (bộ rau): 91 loài.
- Quả bộ (bộ quả): 84 loài
- Cầm bộ (bộ chim): 77 loài
- Thú bộ (bộ thú vật): 44 loài
- Ngư bộ (bộ cá): 60 loài
- Giới bộ (bộ có vảy): 7 loài.
Ở mỗi loài, tác giả đều nói rõ tính năng và công dụng của chúng, gồm tên chữ Hán và tên Nôm(2), giải thích cặn kẽ từng loại để phân biệt cho đúng, dùng cho hiệu quả. Ví dụ:
- Canh mễ 粳 米 : loại dính gọi là “nọa mễ” (gạo mềm), loại cứng gọi là “canh mễ” (gạo cứng), tục gọi là “gạo tẻ trắng”, vị ngọt, tính bình, không độc. Công dụng: ích khí, chỉ phiền, ngừa khát, sinh cơ, khoẻ gân cốt, ích tỳ vị, thông huyết mạch, hoà ngũ tạng, làm đẹp nhan sắc, thính tai, sáng mắt...
- Đạo 稻 : còn có tên là “nọa mễ”, tục gọi là “lúa nếp”.
- Hương canh mễ 香 粳 米 : tục gọi là “nếp cái”, vị ngọt, chất mềm, mùi thơm, bổ tinh huyết.
Thuộc Thái bộ:
- Đông phong thái 東 風 菜 : mọc vào đầu mùa xuân, nên có tên gọi là “đông phong” (gió ấm), cũng gọi “đông phong” 冬 風 (gió mùa đông), tức là được cái khí của màu đông, lá giống lá mận nhưng dài hơn, dầy hơn, mềm, trên có lông nhỏ, gân tía, nấu canh ăn, vị ngọt lạnh, không độc, chữa ung nhiệt, đầu thống, mắt hoa, gan nóng, phụ nữ có chửa, nấu canh ăn với thịt rất tốt.
- Hiện 莧 : tục gọi “rau dền”, vị ngọt lạnh, không độc. Rau dền trắng bổ khí, thông cửu khiếu, trừ lỵ. Rau dền tía sát trùng, trị khí. Các loại rau dền đều lợi đại tiểu tràng, trị sơ lỵ, hoại thai. Phàm ăn nhiều rau dền thì động khí, khiến người ta phiền muộn...
- Địa đinh (地 丁 ): tục gọi “rau bồ công anh”, vị ngọt, tính bình, không độc, trừ nhiệt, chữa ung thư vú.
Thuộc Quả bộ
- Ngũ liễm tử 五 斂 子 : còn có tên “ngũ lăng tử” 五 棱 子 và “Âm đào” 陰 桃 , tục gọi là “quả khế”, vị ngọt, chua, tính bình, không độc, trị phong nhiệt, sinh tân dịch, ngừa khát...
- Chư tử 儲 子 , tục gọi “hột gắm”, vị đắng, tính bình, không độc, ăn vào không đói, trừ khát, phá huyết độc, ăn sống thì đắng, rang chín thì ngọt, kỵ ngọt và chua, hơi lạnh, không được ăn nhiều.
- Trăn thực 榛 實 : tục gọi “hột chỉ”, vị ngọt, tính bình, không độc, ích khí lực, vào tỳ vị khiến người ta không đói, hành quân ăn thay lương thực...
Những loại dược liệu kê ra ở đây hoàn toàn là những động vật và thực vật có tại nước ta, như: gạo nếp, nếp cái, nếp hương, nếp cẩm, ngô, tiểu mạch, gạo tám, lúa dự, gạo lồng vực, ý dĩ, đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh, đậu trắng, đậu ván trắng hột, đậu ván đen hột, đậu phụ, mạch nha, rau hành, kiệu, rau cải, cải trắng, rau xương cá, rau vi, củ từ, măng, quả bầu, bí, bầu lào, dưa gang, dưa bở, mướp đắng, mộc nhĩ, nấm tai mèo, nấm đất, nấm đá, tía tô, rau má, đào, mận, mơ, táo chua, lê, quả gạo, quả mật, hồng, cậy, cam sành, cam chanh, bưởi, vải, nhãn, trám đen, trám trắng, cái hạc, cái diệc, cái cò, cái vạc, gà mái đen, gà mái vàng, chim trĩ, trĩ trắng, cái đa đa, bồ câu non, chim ri, chim yến, cái công, chim bà cắt, con lợn, con chó, dê, bò, lợn lòi, hươu, nai, hoẵng, mèo, cóc, vượn, thỏ, chuột, khỉ, cá chép, cá thu, cá mè, cá chiên, cá ngạo, cá đầu đá, cá mối, cá anh vũ, cá bống, cá cấn cấn, cái cá chiên, cái giải (cua), cái hầu (sò), cái ba ba v.v..., gồm 437 loài tất cả.
Trải trên bốn thế kỷ, văn bản ắt nhiều phen thay đổi, sửa chữa bổ sung. Văn bản hiện còn đến ngày nay, chắc cũng khác xa với nguyên bản, nhất là về mặt chữ viết, tên dược liệu... ở đây có sử dụng một ít chữ Nôm, xét thấy đều là chữ Nôm đời sau, trừ một số chữ còn để lại đôi nét viết theo lối cổ, như đã từng xuất hiện trong Hồng Đức Quốc âm thi tập thế kỷ XV, như: chim “bà cắt” tức là “chim cắt”, giống như từ “bà ngựa” tức là “con ngựa” dùng trong Hồng nghĩa giác tư y thư của Tuệ Tĩnh. Hoặc dùng từ đôi không biến âm như: chim chích chích, cái đa đa, cá cấn cấn. Hoặc vẫn sử dụng từ cổ như từ “cái” thay cho từ “con”. Cái giải (con cua), cái vượn (con vượn), cái cáo (con cáo), cái ba ba (con ba ba), cái vẹt (con vẹt), cái cò, cái vạc (con cò, con vạc) và đặc biệt: cái giá (rau giá) v.v... Hoặc đôi chỗ dùng từ “cả” thay cho “to”: lúa mạch cả bông (lúa mạch to bông), kê nếp cả hột (kê nếp to hột) v.v...
Ngoài ra, khi sao chép lại, người đời sau có lẽ đã bỏ bớt từ cho gọn, như “tục gọi là”, thường lược đi chữ “gọi”: “Chiên ngư, tục là cái cá chiên”, “Xích tiểu đậu, tục là đậu đỏ...” Rất có thể, chữ “gọi” bị lược đi ấy được viết bằng từ cổ “ốc” hoặc “hiệu”?
Như vậy, mặc dù văn bản đã thay đổi nhiều lần nhưng những yếu tố ban đầu (tác giả đã sử dụng thế kỷ XV) vẫn còn đọng lại đôi chỗ, là bằng chứng giúp ta khẳng định tác phẩm hiện còn là của Phan Phu Tiên.
Như thế, Phan Phu Tiên không những là nhà sử học, văn học nổi tiếng, mà còn là nhà nghiên cứu y học nữa. ở thế kỷ XV, những trước thuật về y học còn rất hiếm, Bản thảo thực vật toản yếu của Phan Phu Tiên ra đời là một đóng góp cho nền y học cổ truyền của dân tộc, phản ánh sự tiến bộ của cha ông ta đã nhận thức rất sớm về tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Như trên đã thấy, Bản thảo thực vật toản yếu không nhằm giới thiệu cái dược liệu dùng để làm thuốc chữa bệnh cụ thể, mà chủ yếu chỉ giới thiệu những động vật và thực vật thông thường, cùng tính năng và công dụng của chúng, giúp tác dụng đúng lúc, đúng chỗ, nhằm ngăn ngừa và chữa trị những bệnh tật của con người ...
II. Nguyễn Trực và Bảo anh lương phương.
Nguyễn Trực (1417 - 1473) tự Công Đĩnh, hiệu Hu Liêu, người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai (nay thuộc Hà Tây). Năm 18 tuổi ông đỗ Hương cống, năm Đại Bảo thứ 3 (1442) đỗ Trạng nguyên. Đời Lê Nhân Tông (1443 - 1459), niên hiệu Thái Hòa (1443 - 1453) ông làm Hàn lâm viện Thị giảng. Tác phẩm có:
- Hu Liêu tập.
- Ngu nhàn tập.
- Bảo anh lương phương.
- Bảo anh lương phương (A.1462) gồm 4 quyển (Xuân, Hạ, Thu, Đông), Nguyễn Trực soạn năm ất Hợi, niên hiệu Diên Ninh 2 (1455), Y viện Tú tài Nguyễn Địch(5), sao chép. Hiện chỉ còn quyển Xuân, gồm 87 tờ, tờ 18 dòng, dòng 20 chữ. Quyển hiện còn này do Học viện Viễn đông bác cổ chép lại hồi trước Cách mạng tháng Tám, trên giấy bản khổ lớn 30x20cm. Bài tựa đầu sách do chính tác giả viết. Nội dung dịch như sau:
Bài tựa tập Bảo anh lương phương
Kìa: “Y” là “lý” vậy, quý ở chỗ xem xét hư thực, càng quý ở chỗ quan sát âm dương, thực là không thể xem nhẹ được. Trộm nghĩ: Trời sinh ra muôn vật, còn phải gieo trồng vun đắp cho nó, huống chi là trẻ con ở thời kỳ mầm mống đang được nảy sinh, há lại không thể không bồi dưỡng, vun đắp cho nó hay sao? Trong thiên Khang cáo (Kinh Thư) có nói: “muốn bảo vệ con đỏ thì phải nuôi dưỡng trẻ thơ”. Cổ nhân cũng còn nơm nớp lo lắng, thận trọng như vậy đó.
Tôi tài năng nông cạn, học vấn thô sơ, ngẫu nhiên được một tập sách, bèn nghiên cứu sự tinh vi huyền diệu của cổ nhân, lại tìm tòi các phương trị bệnh hiệu nghiệm danh tiếng của nhà y, chia thành 4 quyển: Xuân, Hạ, Thu, Đông, rồi đặt tên là Bảo anh lương phương (các phương thuốc hay bảo vệ trẻ em). Tuy không dám có ý lưu truyền trong thiên hạ, nhưng cũng là sự trợ giúp để bảo vệ trẻ con. Bèn làm bài tựa.
[Đệ] nhất giáp Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất triều Lê Thái Tông là Nguyễn Trực biên soạn.
Y viên Tú tài Nguyễn Địch phụng sao.
Tập Xuân hiện còn, có những nội dung chính như sau:
1. Năm phép khám bệnh cho trẻ con: Một là xem ánh mắt; hai là nghe tiếng nói; ba là xem vành tai; bốn là xem hình dung; năm là xem lồng tóc... Có phân tích tỉ mỉ chức năng của 5 bộ phận, sự liên quan của chúng với bệnh tật, vì trẻ nhỏ chưa biết nói, dựa vào 5 điểm trên là điều cốt yếu của việc khám bệnh cho trẻ.
2. Các bài ca soạn theo thể 7 chữ như: Nhập môn sát sắc ca (bài ca nhập môn quan sát sắc mặt), Diện thượng thư huyệt ca (Bài ca về các huyệt trên mặt), Tiểu nhi vô hoạn ca (bài ca trẻ nhỏ không phải lo ngại), Điều hộ ca (bài ca điều hộ), Nhập môn hầu ca (bài ca bàn về sắc mặt), Mạch pháp ca (bài ca về phép xem mạch), Nã pháp ca (bài ca về nắm phép chữa bệnh) v.v...
3. Chuyên khoa đậu mùa, gồm những nội dung sau đây:
- Biện, luận về các chứng đậu mùa: bàn về việc xem sắc mặt bệnh nhân để biết bệnh nặng hay nhẹ, luận về khí huyết hư thực; bàn về chứng đậu hư biến thành đậu thực, và chứng đậu hư giống như đậu thực; nhiệt chứng biến thành hư chứng, ung nhiệt biến thành hư chứng...
- Các bài ca và các bài phú về các chứng đậu mùa: Kinh đậu ca (bài ca về bệnh đậu nhẹ), Trọng đậu ca (bài ca về bệnh đậu nặng), Nghịch đậu ca (bài ca về bệnh đậu nghịch)... Và Bệnh nghi phú, Kim kính phú, Tiết chế phú, Quyền Nghi phú, Chỉ nam phú, Hư chứng phú, Hư chứng cấm dụng dược phú v.v...
Bài thuốc và cách chữa các chứng đậu mùa như chứng rét run lập cập, miệng khô khát nước, ho đờm, bọc nước mất máu, bí đại tiện, bụng trướng, bụng đau v.v...
- Tính năng về công dụng 114 vị dược liệu dùng để chữa bệnh đậu mùa, như: Mạch môn: vị ngọt, tính bình, ngừa khô miệng, phiền khát, thoái nhiệt trong tim phổi; Cúc hoa: vị ngọt, tính bình, trị đậu vào mắt có tia đỏ, màng che. Hoàng mễ: vị ngọt, tính ấm, ích chân khí, hoà tỳ vị. Long đậu: vị đắng, tính lạnh , giải nhiệt, lợi tiểu tiện, tán nhiệt độc v.v...
- Một số phương thuốc hay trị đậu: Thanh cơ thấu độc thang, Công độc ẩm, thanh kim tán độc ẩm. Lương kết công độc ẩm, Thần ứng đoạt mệnh đơn, Tán kết thang, Trư vĩ cao v.v...
Tập sách nặng về lý thuyết, ít bài thuốc chữa cụ thể. Chữ chép tốt, tuy nhiên cũng có đôi chữ chép sai, như: “Tỳ bệnh thanh mạn”, chữ “thanh” 清 nên thay bằng chữ “thanh” 聲 (nghĩa là, người mắc bệnh tỳ, tiếng nói đầy nước). Hay “Tiểu tráng bệnh thanh đoản” chữ “thanh” 清 nên thay bằng chữ “thanh” 聲 (nghĩa là, người mắc bệnh về tiểu tràng có tiếng nói ngắn).
Tập sách hoàn toàn dùng chữ Hán để biên soạn, không thấy chữ Nôm xuất hiện. Tất cả những chữ Thì (kiêng húy vua Tự Đức) trong văn bản đều viết thành 挦 hoặc 辰 . Điều này càng giúp khẳng định thêm về câu trong sách đề là “Tú tài Nguyễn Địch phụng sao”, chép là Nguyễn Địch tự là Huệ Phủ, hiệu là Vân Đình, làm quan Thái y viện triều Đồng Khánh (1886), tác phẩm có Vân Khê y thú yếu lục, Như vậy từ nguyên bản (TK XV) đến bản sao (TK XIX) đã có một khoảng cách khá dài.
Trong lời tựa tác giả viết: “... Tìm từ các phương trị bệnh hiệu nghiệm danh tiếng của nhà y, chia thành 4 quyển: Xuân, Hạ, Thu, Đông... Tuy không dám có ý lưu truyền trong thiên hạ, nhưng cũng là sự trợ giúp để bảo vệ trẻ nhỏ...” Như thế, ý định soạn sách của tác giả thật rõ ràng, mục đích cũng rất tốt đẹp. Cho nên tập sách sẽ được biên soạn theo một trật tự nhất định. Thế nhưng, trong “Xuân quyển” hiện còn này, điều kiện ấy không được thực hiện triệt để. Như đang chép về bệnh đậu mùa, lại chép xem vào các bài thuốc chữa tê phong, trùng thiệt, nga khẩu và các phương thuốc trị thai độc, kinh phong, khu nghịch kinh, bàn tràng kinh, mã đề kinh, cấp kinh, mạn kinh... Sau đó lại chép tiếp phần dược tính các vị dược liệu dùng để chữa bệnh đậu... Sự sao chép “tổng hợp” này, có lẽ là do người sao chép thực hiện. Dẫu sao, tập sách hiện còn cũng rất quý, không những vì nó có niên đại sớm, mà về nội dung rất phong phú và của một tác giả khá nổi tiếng nửa cuối thế kỷ XV. Một bộ sách chuyên khoa nhi khá đồ sộ, gồm 4 quyển, hiếm thấy trong kho thư tịch y học cổ truyền Việt Nam, là một đóng góp đáng kể cho nền y học truyền thống nước nhà. Đáng tiếc hiện chưa tìm thấy ba quyển Hạ, Thu, Đông.
Nguyễn Trực (1417 - 1473) tự Công Đĩnh, hiệu Hu Liêu, người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai (nay thuộc Hà Tây). Năm 18 tuổi ông đỗ Hương cống, năm Đại Bảo thứ 3 (1442) đỗ Trạng nguyên. Đời Lê Nhân Tông (1443 - 1459), niên hiệu Thái Hòa (1443 - 1453) ông làm Hàn lâm viện Thị giảng. Tác phẩm có:
- Hu Liêu tập.
- Ngu nhàn tập.
- Bảo anh lương phương.
- Bảo anh lương phương (A.1462) gồm 4 quyển (Xuân, Hạ, Thu, Đông), Nguyễn Trực soạn năm ất Hợi, niên hiệu Diên Ninh 2 (1455), Y viện Tú tài Nguyễn Địch(5), sao chép. Hiện chỉ còn quyển Xuân, gồm 87 tờ, tờ 18 dòng, dòng 20 chữ. Quyển hiện còn này do Học viện Viễn đông bác cổ chép lại hồi trước Cách mạng tháng Tám, trên giấy bản khổ lớn 30x20cm. Bài tựa đầu sách do chính tác giả viết. Nội dung dịch như sau:
Bài tựa tập Bảo anh lương phương
Kìa: “Y” là “lý” vậy, quý ở chỗ xem xét hư thực, càng quý ở chỗ quan sát âm dương, thực là không thể xem nhẹ được. Trộm nghĩ: Trời sinh ra muôn vật, còn phải gieo trồng vun đắp cho nó, huống chi là trẻ con ở thời kỳ mầm mống đang được nảy sinh, há lại không thể không bồi dưỡng, vun đắp cho nó hay sao? Trong thiên Khang cáo (Kinh Thư) có nói: “muốn bảo vệ con đỏ thì phải nuôi dưỡng trẻ thơ”. Cổ nhân cũng còn nơm nớp lo lắng, thận trọng như vậy đó.
Tôi tài năng nông cạn, học vấn thô sơ, ngẫu nhiên được một tập sách, bèn nghiên cứu sự tinh vi huyền diệu của cổ nhân, lại tìm tòi các phương trị bệnh hiệu nghiệm danh tiếng của nhà y, chia thành 4 quyển: Xuân, Hạ, Thu, Đông, rồi đặt tên là Bảo anh lương phương (các phương thuốc hay bảo vệ trẻ em). Tuy không dám có ý lưu truyền trong thiên hạ, nhưng cũng là sự trợ giúp để bảo vệ trẻ con. Bèn làm bài tựa.
[Đệ] nhất giáp Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất triều Lê Thái Tông là Nguyễn Trực biên soạn.
Y viên Tú tài Nguyễn Địch phụng sao.
Tập Xuân hiện còn, có những nội dung chính như sau:
1. Năm phép khám bệnh cho trẻ con: Một là xem ánh mắt; hai là nghe tiếng nói; ba là xem vành tai; bốn là xem hình dung; năm là xem lồng tóc... Có phân tích tỉ mỉ chức năng của 5 bộ phận, sự liên quan của chúng với bệnh tật, vì trẻ nhỏ chưa biết nói, dựa vào 5 điểm trên là điều cốt yếu của việc khám bệnh cho trẻ.
2. Các bài ca soạn theo thể 7 chữ như: Nhập môn sát sắc ca (bài ca nhập môn quan sát sắc mặt), Diện thượng thư huyệt ca (Bài ca về các huyệt trên mặt), Tiểu nhi vô hoạn ca (bài ca trẻ nhỏ không phải lo ngại), Điều hộ ca (bài ca điều hộ), Nhập môn hầu ca (bài ca bàn về sắc mặt), Mạch pháp ca (bài ca về phép xem mạch), Nã pháp ca (bài ca về nắm phép chữa bệnh) v.v...
3. Chuyên khoa đậu mùa, gồm những nội dung sau đây:
- Biện, luận về các chứng đậu mùa: bàn về việc xem sắc mặt bệnh nhân để biết bệnh nặng hay nhẹ, luận về khí huyết hư thực; bàn về chứng đậu hư biến thành đậu thực, và chứng đậu hư giống như đậu thực; nhiệt chứng biến thành hư chứng, ung nhiệt biến thành hư chứng...
- Các bài ca và các bài phú về các chứng đậu mùa: Kinh đậu ca (bài ca về bệnh đậu nhẹ), Trọng đậu ca (bài ca về bệnh đậu nặng), Nghịch đậu ca (bài ca về bệnh đậu nghịch)... Và Bệnh nghi phú, Kim kính phú, Tiết chế phú, Quyền Nghi phú, Chỉ nam phú, Hư chứng phú, Hư chứng cấm dụng dược phú v.v...
Bài thuốc và cách chữa các chứng đậu mùa như chứng rét run lập cập, miệng khô khát nước, ho đờm, bọc nước mất máu, bí đại tiện, bụng trướng, bụng đau v.v...
- Tính năng về công dụng 114 vị dược liệu dùng để chữa bệnh đậu mùa, như: Mạch môn: vị ngọt, tính bình, ngừa khô miệng, phiền khát, thoái nhiệt trong tim phổi; Cúc hoa: vị ngọt, tính bình, trị đậu vào mắt có tia đỏ, màng che. Hoàng mễ: vị ngọt, tính ấm, ích chân khí, hoà tỳ vị. Long đậu: vị đắng, tính lạnh , giải nhiệt, lợi tiểu tiện, tán nhiệt độc v.v...
- Một số phương thuốc hay trị đậu: Thanh cơ thấu độc thang, Công độc ẩm, thanh kim tán độc ẩm. Lương kết công độc ẩm, Thần ứng đoạt mệnh đơn, Tán kết thang, Trư vĩ cao v.v...
Tập sách nặng về lý thuyết, ít bài thuốc chữa cụ thể. Chữ chép tốt, tuy nhiên cũng có đôi chữ chép sai, như: “Tỳ bệnh thanh mạn”, chữ “thanh” 清 nên thay bằng chữ “thanh” 聲 (nghĩa là, người mắc bệnh tỳ, tiếng nói đầy nước). Hay “Tiểu tráng bệnh thanh đoản” chữ “thanh” 清 nên thay bằng chữ “thanh” 聲 (nghĩa là, người mắc bệnh về tiểu tràng có tiếng nói ngắn).
Tập sách hoàn toàn dùng chữ Hán để biên soạn, không thấy chữ Nôm xuất hiện. Tất cả những chữ Thì (kiêng húy vua Tự Đức) trong văn bản đều viết thành 挦 hoặc 辰 . Điều này càng giúp khẳng định thêm về câu trong sách đề là “Tú tài Nguyễn Địch phụng sao”, chép là Nguyễn Địch tự là Huệ Phủ, hiệu là Vân Đình, làm quan Thái y viện triều Đồng Khánh (1886), tác phẩm có Vân Khê y thú yếu lục, Như vậy từ nguyên bản (TK XV) đến bản sao (TK XIX) đã có một khoảng cách khá dài.
Trong lời tựa tác giả viết: “... Tìm từ các phương trị bệnh hiệu nghiệm danh tiếng của nhà y, chia thành 4 quyển: Xuân, Hạ, Thu, Đông... Tuy không dám có ý lưu truyền trong thiên hạ, nhưng cũng là sự trợ giúp để bảo vệ trẻ nhỏ...” Như thế, ý định soạn sách của tác giả thật rõ ràng, mục đích cũng rất tốt đẹp. Cho nên tập sách sẽ được biên soạn theo một trật tự nhất định. Thế nhưng, trong “Xuân quyển” hiện còn này, điều kiện ấy không được thực hiện triệt để. Như đang chép về bệnh đậu mùa, lại chép xem vào các bài thuốc chữa tê phong, trùng thiệt, nga khẩu và các phương thuốc trị thai độc, kinh phong, khu nghịch kinh, bàn tràng kinh, mã đề kinh, cấp kinh, mạn kinh... Sau đó lại chép tiếp phần dược tính các vị dược liệu dùng để chữa bệnh đậu... Sự sao chép “tổng hợp” này, có lẽ là do người sao chép thực hiện. Dẫu sao, tập sách hiện còn cũng rất quý, không những vì nó có niên đại sớm, mà về nội dung rất phong phú và của một tác giả khá nổi tiếng nửa cuối thế kỷ XV. Một bộ sách chuyên khoa nhi khá đồ sộ, gồm 4 quyển, hiếm thấy trong kho thư tịch y học cổ truyền Việt Nam, là một đóng góp đáng kể cho nền y học truyền thống nước nhà. Đáng tiếc hiện chưa tìm thấy ba quyển Hạ, Thu, Đông.
Người biên tập: Mai Xuân Hải
CHÚ THÍCH
(1) Trong EOM (Viễn đông y học tạp chí), No 2, 1949 cũng đã thống kê hai tác phẩm trên trong Danh mục sách đông y Việt Nam.
(2) Võ Duy Đoán: Đại Việt lịch đại đăng khoa lục, VHv.226; Trần Văn Giáp: Hồng nghĩa giác tư y thư, Nxb. Y học, H. 1978; Mai Hồng - Tìm hiểu tư liệu về Tuệ Tĩnh, Nghiên cứu Hán Nôm, số 2, 1985, đều khẳng định Tuệ Tĩnh là người huyện Cẩm Bình (Hải Hưng), sống ở thế kỷ XIV, từng biên soạn bộ sách trên. Nhưng Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Văn hóa, 1984, khi khảo về hai tác phẩm này, dựa vào Đăng khoa lục (không nói rõ ký hiệu), cải chính lại Tuệ Tĩnh sống vào thế kỷ XVII (?). Nguyễn Sỹ Lâm trong Một số ý kiến về truyền thuyết tác phẩm của Tuệ Tĩnh, Tạp chí Y học cổ truyền dân tộc Việt Nam, số 194, năm 1985, cũng lại tán thành nhận định này. Chúng tôi theo quan điểm của Mai Hồng, cho rằng Tuệ Tĩnh là người sống ở thế kỷ XIV.
(3) Theo thống kê của Trần Văn Giáp - Lược truyện các tác gia Việt Nam, Nxb. KHXH, H.1971, tr.98.
(4) Từ điển văn học (TĐVH) mục Phan Phu Tiên nói “Ông (tức Phan Phu Tiên) còn biên soạn Bản thảo thực vật toản yếu bằng tiếng Việt, nay không còn”. Không rõ TĐVH đã căn cứ vào tư liệu nào. Cứ như lời bài tựa và thực tế văn bản hiện còn thì Bản thảo thực vật toản yếu chỉ dùng tiếng Việt (chữ Nôm) để giải thích tên chữ Hán những dược liệu có ở Việt Nam mà thôi.
(2) Võ Duy Đoán: Đại Việt lịch đại đăng khoa lục, VHv.226; Trần Văn Giáp: Hồng nghĩa giác tư y thư, Nxb. Y học, H. 1978; Mai Hồng - Tìm hiểu tư liệu về Tuệ Tĩnh, Nghiên cứu Hán Nôm, số 2, 1985, đều khẳng định Tuệ Tĩnh là người huyện Cẩm Bình (Hải Hưng), sống ở thế kỷ XIV, từng biên soạn bộ sách trên. Nhưng Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Văn hóa, 1984, khi khảo về hai tác phẩm này, dựa vào Đăng khoa lục (không nói rõ ký hiệu), cải chính lại Tuệ Tĩnh sống vào thế kỷ XVII (?). Nguyễn Sỹ Lâm trong Một số ý kiến về truyền thuyết tác phẩm của Tuệ Tĩnh, Tạp chí Y học cổ truyền dân tộc Việt Nam, số 194, năm 1985, cũng lại tán thành nhận định này. Chúng tôi theo quan điểm của Mai Hồng, cho rằng Tuệ Tĩnh là người sống ở thế kỷ XIV.
(3) Theo thống kê của Trần Văn Giáp - Lược truyện các tác gia Việt Nam, Nxb. KHXH, H.1971, tr.98.
(4) Từ điển văn học (TĐVH) mục Phan Phu Tiên nói “Ông (tức Phan Phu Tiên) còn biên soạn Bản thảo thực vật toản yếu bằng tiếng Việt, nay không còn”. Không rõ TĐVH đã căn cứ vào tư liệu nào. Cứ như lời bài tựa và thực tế văn bản hiện còn thì Bản thảo thực vật toản yếu chỉ dùng tiếng Việt (chữ Nôm) để giải thích tên chữ Hán những dược liệu có ở Việt Nam mà thôi.
|
|
No comments:
Post a Comment