Wednesday, September 18, 2019

QUÁ KHỨ BỊ DÁNH CẮP - AI MỚI LÀ CHỦ NHÂN ĐÍCH THỰC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG ?


https://www.facebook.com/groups/164477160825069/permalink/453264148613034/
https://taobabe.wordpress.com/ancient-viet-cradle-of-asian-civilization/


QUÁ KHỨ BỊ ĐÁNH CẮP - AI MỚI LÀ CHỦ NHÂN ĐÍCH THỰC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG ?
Đây là một bài viết khá thú vị của một bạn trẻ người Mỹ gốc Việt, có lẽ phần nào cũng nói ra được tâm tư của những người con đất Việt khi tìm được chân lý về cội nguồn của dân tộc mình. Càng đi, càng tìm, chúng ta càng thấy tự hào về Tổ Tiên của mình, càng thấy những gì chúng ta được truyền đạt, dạy dỗ rất khác với sự thật. Con đường dài và đầy chông gai, nhưng rất đáng để chúng ta đi và tìm về. Tuy vậy bài viết này chỉ là sơ lược, nên có nhiều vấn đề mà nó khẳng định chưa được chứng minh một cách cụ thể. Nhưng cứ tìm, cứ đi, chúng ta sẽ dần thấy những điều được viết ở đây cũng không xa với sự thật nhiều lắm. 📷
Việt cổ: cái nôi của văn minh Á Đông
Tôi sinh ra ở Việt Nam.
Khi viết những lời này, tôi suy nghĩ tới ý nghĩa thực sự và sâu sắc nhất của chúng. Ra khỏi cái bóng tối tăm của quê hương tôi trong quá khứ, trộn lẫn sương mù và khói thuốc pháo, tôi hầu như không thể nhìn thấy diện mạo của những người đến trước tôi; những khuôn mặt quen thuộc thoáng qua của một ngàn năm xa vắng; những người tự gọi mình là người Việt Nam.
Khói và sương mù trở nên dày hơn, xa xăm hơn, tôi cố gắng nhìn thấu. Sau hai ngàn năm, không khuôn mặt nào còn lại, chỉ có những hình thức mơ hồ. Quá khứ, chỉ có bóng tối. Và nó ở lại … hàng ngàn năm Bóng Tối.
Tôi lớn lên với ý nghĩ, chúng ta chỉ là một phần nhỏ bé của một nền văn minh khổng lồ và mạnh mẽ ở phía bắc, xa hơn rất nhiều trong lịch sử được ghi lại; một nền văn minh đã phát minh ra hàng ngàn điều quan trọng, từ gốm, giấy, lụa. Đối với người Việt Nam, chúng tôi đã được chứng minh là hoàn toàn không có sáng tạo, tích cực gì; xã hội của chúng ta không có kỹ thuật và tiên tiến đủ để có những người khổng lồ tinh thần có khả năng làm những kỳ công như vậy. Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã phát minh ra nước mắm, nhưng rồi cũng thất bại trong cuộc tranh luận vì trong lịch sử, người Hy Lạp đã khẳng định trước ý tưởng đó.
Người Trung Quốc ở phía Bắc là một quốc gia giàu có và mạnh mẽ mà chúng tôi là những người nghèo khó ở phía Nam, những người hầu như trần truồng và đói khát. Tôi lớn lên với suy nghĩ rằng sở dĩ tiếng nói và phong tục tập quán Việt tương tự như Trung Quốc bởi vì chúng tôi đã sao chép chúng, mà không hề có nguyên bản gốc của mình.
Tôi rất xin lỗi.
Tôi chỉ có thể xin tổ tiên của tôi tha thứ. Tôi không biết. Làm thế nào tôi biết được? Chúng tôi chưa bao giờ biết sự thật, và sự thật là:
Đất Việt cổ, phía nam sông Hoàng Hà, là cái nôi của nền văn minh châu Á!.
Vậy làm sao chúng tôi có thể trở thành cái nôi của nền văn minh châu Á?. Rõ ràng, chúng tôi không có các tác phẩm lịch sử ghi lại điều này. Tất cả lịch sử lâu đời và nổi tiếng của chúng tôi đã bị xoá bỏ hơn hai ngàn năm trước và bị đàn áp trong đau đớn và chết chóc. Và ngoài ra, các bài viết lịch sử không phải bao giờ cũng là chứng cứ bởi lẽ mọi người đều biết lịch sử được viết bởi những người chiến thắng và không nhất thiết gần với sự thật.
Không, đây là một tuyên bố phi thường, và như Carl Sagan nói, “yêu sách phi thường đòi hỏi phải có bằng chứng phi thường”. Vì vậy, với ít tác phẩm lịch sử trưng dẫn này, cái “bằng chứng bất thường của tôi” đến từ đâu?. Hai từ – khảo cổ di truyền học và khảo cổ học.
Khảo cổ di truyền học
Hãy bắt đầu với Archaeogenetics (khảo cổ di truyền học), vì nó có các gen để tìm ra những người tạo ra một nền văn minh. Archaeogenetics là một phương pháp tương đối mới để nghiên cứu khoa học quá khứ của con người bằng cách áp dụng các kỹ thuật di truyền phân tử: phân tích ADN thu được từ các di tích khảo cổ học, phân tích ADN từ dân số hiện đại và áp dụng các phương pháp toán thống kê các tài liệu khảo cổ học và vật liệu di truyền.
Phương pháp này gần đây đã có sẵn do công việc đột phá của các nhà di truyền học khám phá bộ gen của con người. Với bản in màu xanh khoa học này, các nhà khoa học đã có thể khảo sát dòng dõi con người từ quá khứ xa xôi và làm sáng tỏ những gì trước đây không rõ ràng.
Đây là tuyên bố công khai mở từ một tài liệu được phát hành vào năm 1992 bởi một nhóm các nhà di truyền học thuộc Hiệp hội Di truyền Hoa Kỳ.
DNA của ty thể (mtDNAs) từ 153 mẫu độc lập bao gồm bảy quần thể châu Á đã được khảo sát về biến thể tuần tự bằng cách sử dụng phản ứng chuỗi polymerase (PCR), phân tích endonuclease hạn chế và lai tạo oligonucleotide.
Tất cả các quần thể châu Á chia sẻ hai hình thái đa dạng sinh học AluIIDdI cổ ở 10394 và 10397 và tương tự về mặt di truyền cho thấy chúng có chung tổ tiên. Sự đa dạng mtDNA lớn nhất và tần số cao nhất của mtDNAs với HfiaI / HincII morph 1 đã được quan sát thấy ở người Việt Nam cho thấy một nguồn gốc Mongoloid Nam của người châu Á.
Tần số đa dạng cao của người Việt Nam và tần số cao của HincII / H # aI morph 1 haplotypes cho thấy phía Nam Trung Quốc là trung tâm của phát tán mtDNA châu Á (BLANC et al.1983) … Các tần số cao của nhóm haplotype xóa D * mtDNAs ở Đông Nam Á, các hòn đảo Thái Bình Dương và Thế giới Mới ngụ ý rằng những người di cư mang nhãn hiệu này là hậu duệ từ một cộng đồng người sáng lập đơn lẻ. ( Hiệp hội Genetics của Mỹ) * Nghiên cứu kỹ càng của về trình tự gen của họ đã cho thấy một sự thật đáng kinh ngạc: “Dữ liệu cung cấp bằng chứng cho thấy người Việt Nam đa dạng nhất, và do đó, dân số già nhất.” * Điều này có nghĩa là (trống vui lòng), lịch sử mà con người liên quan đến chúng ta, thực hiện những lời dạy thầm vì thiếu bằng chứng bằng văn bản, về Đế quốc Việt Nam vĩ đại của chúng ta, thật sự là tất cả.
Khảo cổ học
Bây giờ chúng ta đến với Khảo cổ học. Sách có thể bị đốt cháy và các nhà sử học có thể bị chôn sống để trấn áp sự thật và lịch sử, nhưng số lượng lớn các hiện vật cổ xưa nằm không bị xáo trộn, dưới lòng đất ngàn năm không dễ bị phá hủy như vậy. Với việc khôi phục các hiện vật cũng đi đến sự phục hồi của quá khứ cổ xưa của nhân dân tôi.
Tất cả những gì cần làm là:
1) Xác định di cốt và những thứ khác
2) Niên đại của chúng
3) Ghi lại các vị trí địa chất của chúng
Sự thật sẽ xuất hiện một khi các hiện vật cổ đã được tìm thấy.
Niên đại và vị trí là rất quan trọng bởi vì trước năm 111 TCN, khu vực Nam sông Dương Tử, từ Thái Bình Dương đến biên giới phía đông của Miến Điện, là toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Bản đồ dưới đây cho biết đâu là lãnh thổ của Việt Nam và được gọi là gì.
Bản đồ này không cho thấy Đài Loan, mặc dù các mô hình di cư cho thấy tổ tiên cổ của tôi đã đi tới đảo đó ít nhất là ba đợt liên tiếp. Làn sóng đầu tiên là vào năm 4.000 trước Công nguyên từ khu vực gần Hòa Bình (trong vùng Bắc Việt Nam hiện nay). Dụng cụ đá và vật liệu di truyền từ các mảnh xương khớp với những vật liệu được tìm thấy từ cả hai địa điểm. Làn sóng thứ hai xuất phát từ khu vực Bắc Sơn (cũng tại Bắc Việt Nam ngày nay) và cũng có các công cụ, rìu, di truyền, vv … làn sóng thứ ba là đa dạng nhất, đến từ Java và Malaysia. Đợt cuối cùng này định cư dọc theo khu vực duyên hải miền Trung Việt Nam và tạo nên người Chămpa ngày nay (mô hình chuyển đổi này sẽ được trình bày kỹ hơn trong bài đăng sau).
Bản đồ cho thấy thời cổ đại Bách Việt (百越 / 百 粵) cổ xưa như thế nào. Thuật ngữ Bách Việt có nghĩa là một trăm bộ lạc người Việt, nối lại câu chuyện cổ đại của Lạc Long Quân và Âu Cơ, và 100 con của họ sinh ra từ một túi trứng với 100 quả trứng. Mặc dù thần thoại giống như câu chuyện cổ tích của trẻ em nhưng nó là nghiên cứu khoa học về di truyền học xác định sự lan rộng địa lý của người Việt Nam trong khu vực đó chứ không phải trí tưởng tượng kỳ diệu của ai đó về một quá khứ vinh quang mà có thể hoặc không thể tồn tại.
Bất cứ thứ gì tìm thấy trong vùng đó có niên đại trước năm 111 TCN là nguồn gốc Việt Nam vì đó là nơi mà người Việt Nam đã sống hàng ngàn năm trước năm 111 TCN. Vâng, bây giờ là lãnh thổ Trung Quốc và bất cứ điều gì xảy ra sau năm 111 TCN đều có thể được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, nhưng điều đó không phủ nhận thực tế là người Việt Nam sống ở khu vực đó trước khi bị người Hán chiếm giữ. Điều này có nghĩa là bất kỳ hiện vật cổ nào cũng phải thuộc về người Việt Nam chứ không phải người Hán.
Vì tôi không thể đi vào chi tiết của tất cả các hiện vật khác nhau có nguồn gốc Việt Nam do phạm vi bài viết nhỏ này, bây giờ tôi sẽ tập trung vào gốm sứ. Tôi sẽ cố gắng tìm hiểu chi tiết những khám phá khảo cổ khác trong các bài đăng sau này.
Theo LADIR Dynamics, Phòng thí nghiệm Tương tác và Phản ứng ở Đại học Paris 6, các miếng gốm cổ có từ 4000 năm trước Công nguyên (đã hơn 6.000 năm trước). Trong phân tích của họ, đồ sứ và đồ trang sức đã xuất hiện ở khu vực Đông Nam Á, nơi người Việt đang sinh sống vào thời đó.
Những mảnh gốm cổ nhất (<4000 B.C.) được tìm thấy ở Đài Loan, ở Philippines và ở Việt Nam. Các đồ gốm sứ Việt Nam đầu tiên có từ thời Hùng (700 TCN). Mẫu vật bao gồm từ màu nâu đỏ đến màu be-vàng, từ màu xám đến trắng, và phong cách của chúng rất đơn giản, theo truyền thống Phật giáo. Đồ gốm Celadon xuất hiện với sự độc lập về chính trị, dưới triều Lý (1009-1225) và Trần (1225-1400) và trở nên phổ biến ở Trung Quốc.
Cũng có bằng chứng bằng văn bản về điều này vẫn còn tồn tại ở Mông Cổ theo yêu cầu của Kubilai Khan:
Kubilai Khan, vị hoàng đế Mông Cổ, đã yêu cầu “bát sứ trắng” bao gồm trong cống mà ông hoàng của Việt Nam nợ ông. Các đồ gốm đơn sắc của Lý và Trần được phủ ba loại men (màu ngà, nâu và ngọc bích); chúng bao gồm các bình lớn, bát, đĩa, chén, bình, và có thể được trang trí bằng lá, hoa, động vật, v.v.
Các phân tích cũng xác định loại đất sét, nguyên liệu cùng các kỹ thuật được sử dụng và khu vực địa lý mà đất sét được lấy.
Cấu trúc vi mô của gốm sứ chứa rất nhiều thông tin về các kỹ thuật và vật liệu được sử dụng vào thời điểm đó. Nhờ quang phổ Raman, thành phần có thể được phân tích mà không gây nguy hiểm cho bản thân đối tượng. Có vẻ như đồ gốm Việt Nam có tỷ lệ ôxít sắt tương đối cao, nó giải thích màu sắc của chúng, cũng như oxit kali và đặc biệt là nhôm (> 30%) và phải được nung ở nhiệt độ rất cao. Quang phổ Raman có thể cho thấy sự khác biệt giữa các bản sao hiện đại và cổ đại.
Với tất cả những bằng chứng này, tôi đã nhận ra rằng tổ tiên tôi là một đế quốc hùng mạnh một thời, rộng khắp khắp lục địa Châu Á. Chúng tôi đã có một quá khứ dài và nổi tiếng, đầy những anh hùng vĩ đại và các vị vua hùng mạnh.
Người dân chúng ta lan rộng khắp nơi, di cư đến các vùng đất xa về phía bắc của nước Việt Nam ngày nay. Các gen của chúng ta-máu mẹ của chúng ta chảy qua anh em chúng ta ở phía bắc (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) và phía Nam (Malaysia, Indonesia, Philippines).
Sự thật đau đớn là, chúng ta là một đế chế sụp đổ. Chúng ta đã mất lịch sử, chữ viết, kiến thức, mất cả mối quan hệ máu máu huyết với đất nước chúng ta, thậm chí chúng ta đã mất đi ký ức về vương quốc hùng mạnh đó. Nhưng từ tro tàn, một con phượng mới tri thức sống dậy. Sự thật đã giải phóng tôi khỏi phức cảm tự ti mà tôi thường mang theo từ khi còn nhỏ.
Bây giờ tôi biết rằng chúng tôi đã không sao chép bất cứ ai và chúng tôi không phải là kẻ bắt chước. Kiến thức và trí tuệ của chúng tôi đã được kết hợp chặt chẽ với lối sống Hán, ngôn ngữ và phong tục của chúng tôi, lộn xộn và đồng hóa cho đến khi chúng tôi, những đứa trẻ Việt Nam, thậm chí còn không nhận ra nó là gì, như đã từng thuộc về chúng ta. Nhưng trong động mạch và tĩnh mạch của tôi chảy dòng máu cổ từ một đế chế tuyệt vời và vinh quang. Ngay cả khi tôi là người duy nhất nhận ra điều này, ít nhất trong khi tôi vẫn còn sống, những ký ức về tổ tiên của tôi vẫn còn.
Hầu hết người Hán miền Nam trên thực tế là người lai hoặc người Việt / Yueh hoàn toàn. Máu không bao giờ bị mất vì hầu hết người Hán ở Nam Hán vẫn có thể cảm nhận được một số kết nối với Việt Nam, Thử nghiệm DNA không nói dối. Miền Bắc Việt Nam không khác biệt với Nam Hán Trung Quốc./.
Người Hán hiện tại tuyên bố chủ quyền lịch sử với tất cả những vùng đất chưa từng thuộc về họ như Tây Tạng ( bao gồm cả khu vực Nam Tây Tạng đang nằm dưới sự kiểm soát của Ấn Độ ), Tân Cương, những phần của đế quốc Nguyên và Mãn Thanh. Thậm chí cả những xứ chư hầu, phụ thuộc chứ không thuộc lãnh thổ của họ như nước Lưu Cầu hiện đang là tỉnh Okinawa của Nhật, nhiều phần trong đó lấn sang cả đất Nga. Người Hàn thì nhận cả Cao Câu Ly, Phù Dung, Bột Hải vốn nằm toàn trên đất vùng Mãn Châu của Trung Quốc dù có lẽ họ là hậu duệ của dân Tân La. Tôi trộm nghĩ có lẽ chính họ cũng biết khả năng thu hồi lãnh thổ trong hiện tại là rất mong manh nhưng họ vẫn dạy cho con cháu họ để đốt cháy thêm ngọn lửa niềm tự hào dân tộc, để ghi nhớ thành quả của cha ông. Và biết đâu dù đời họ không lấy được thì cũng có thể đến đời con cháu họ thu hồi được thì sao ?
Phỏng theo Tao Babe
P/s: Kubilai Khan là Hãn Hốt Tất Liệt, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn, người chinh phục Nam Tống chấm dứt triều đại tàn độc cai trị bởi Háng tộc

Tuesday, April 16, 2019

Tháp Báo Thiên tên dầy dủ là Dại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp





https://www.facebook.com/qsvnfp/photos/a.495414847267977/1479553652187420/



Tháp Báo Thiên tên đầy đủ là Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp được xây năm 1057 ở Chùa Báo Thiên nằm ở khu đất mé tây hồ Lục Thủy thành Thăng Long (nay là Hồ Gươm).
Tháp này cao đến 20 trượng tức là 80m. Tháp khi xây có tất cả 12 tầng. Tầng trên cùng bằng đồng, những tầng dưới bằng đá và gạch.
Tháp được xếp vào một trong An Nam tứ đại khí, bốn vật báu của đất nước, mà ba vật quý giá khác là tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, Vạc Phổ Minh và Chuông Quy Điền. Ba cái kia tôi không biết, còn cái tháp hiện giờ đã được người Pháp cải tạo hồi họ mới sang Việt Nam ta.
NẾU NGƯỜI PHÁP KHÔNG CẢI TẠO, TỚI NAY, THÁP SẼ GIỮ HÌNH DÁNG BAN ĐẦU 962 NĂM (lâu hơn Nhà thờ Đức Bà quãng 1 thế kỷ rưỡi).
---------


Sunday, April 14, 2019

VỀ BỐN CHỮ "高山景行" TRÊN CỔNG DỀN HÙNG – PHÚ THỌ




https://www.facebook.com/VNTTTnew/posts/2303878296339672



VỀ BỐN CHỮ "高山景行" TRÊN CỔNG ĐỀN HÙNG – PHÚ THỌ
Bốn chữ 高山景行 có nguồn gốc từ : “高山仰止, 景行行止" ( Cao sơn ngưỡng chỉ, Cảnh hàng hành chỉ” ).
* “高山仰止, 景行行止 : “Cao sơn ngưỡng chỉ; Cảnh hàng hành chỉ”. Nghĩa là: “Núi cao thì ai cũng muốn trông; Đường lớn thì ai cũng muốn đi”.
*Từ câu 8 chữ này: “高山仰止, 景行行止" Người xưa đã rút ra 4 chữ 高山景行 để đắp khắc trên cổng lên Đền Hùng (như trong ảnh cổng Đền Hùng hiện nay).
Xét về chữ 行 trong 4 chữ này: có nhiều âm và nghĩa, như : hành, hạnh, hàng, hạng, nên: 高山景行, có thể có mấy cách đọc khác nhau,
có người đọc là “Cao sơn cảnh hành” hiểu “hành” là “hành vi, việc làm”;
có người đọc là “Cao sơn cảnh hạnh” hiểu là “Núi cao, đức sáng”;
có người đọc là “Cao sơn cảnh hàng” hoặc là “Cao sơn cảnh hạng” hiểu là “Núi cao, đường lớn”…
* Lại để ý trên Đền Thượng có 4 chữ: 南 越 肇 祖 (Nam Việt triệu tổ), là biển đề nơi thờ cúng các vua Thủy tổ nước Việt Nam ta, là những người có cống hiến và đức độ như núi cao, đã mở ra rồi truyền lại cho con cháu muôn đời sau: CON ĐƯỜNG LỚN SÁNG LÁNG dựng nước, giữ nước, làm cho đất nước phồn vinh.
(Tiền bối huyền kì khai dựng nước,
Hậu sinh hiển đạt mở kinh bang).
Vậy là người ta khi đi vào cổng Đền gặp 4 chữ đề 高山景行 biết rằng đang đi trên con đường lớn sáng trong để lên đến nơi thờ thủy tổ nước Việt: 南 越 肇 祖 ;
Đó chính là lời nhắc nhủ mọi người Việt Nam luôn ghi nhớ công đức của các vị VUA TỔ NHƯ NÚI CAO ;
Rằng: Người Việt Nam luôn đi theo con đường lớn và sáng, đi theo con đường chính đại quang minh, hướng tới những giá trị cao đẹp.... ấy là YẾU TỐ NỘI SINH CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM
#K3




Tuesday, August 16, 2016

Chính phủ Trần Trọng Kim




https://www.facebook.com/nclspage/posts/2561223137274939

https://nghiencuulichsu.com/2016/08/16/chinh-phu-tran-trong-kim/



TRẦN TRỌNG KIM LẬP CHÍNH PHỦ
Lúc đó, người Nhật đưa Trần Trọng Kim từ Singapore về Sài Gòn ngày 30-3-1945, rồi đưa ông ra tới Huế ngày 5-4-1945. Trần Trọng Kim sinh tại Hà Tĩnh năm 1883, học trường Vinh, rồi trường Thông sự Ninh Bình. Năm 1905, ông qua Pháp, học trường Thương mại La Salle tại Lyon, sau chuyển qua trường Thuộc Địa Pháp, rồi trường Sư Phạm Melun.
Tốt nghiệp năm 1911, ông trở về nước dạy tại trường Trung học Bảo Hộ (Lycée du Protectorat) và trường Sĩ Hoạn (Hà Nội), rồi làm Thanh Tra Tiểu học Bắc Kỳ, hưu trí năm 1942. Ông viết nhiều sách nghiên cứu giá trị về văn chương, triết học, nhất là bộ Việt Nam sử lược, xuất bản lần đầu tại Hà Nội năm 1920.
Năm 1943, được tin bị người Pháp nghi ngờ, ông nhờ người Nhật đưa vào Sài Gòn cùng Dương Bá Trạc. Đầu năm 1944, hai ông qua Singapore. Tại đây Dương Bá Trạc từ trần vì bịnh phổi ngày 10-12-1944. Tháng 1-1945, Trần Trọng Kim đi Bangkok. Ông trở về nước sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945.
Là một nhà giáo và là một nhà nghiên cứu nghiêm túc, Trần Trọng Kim cho rằng vua Bảo Đại là vị vua ham ăn chơi, không chăm lo việc nước nên không muốn gặp. Tuy nhiên, theo lời khuyên của Hoàng Xuân Hãn, Trần Trọng Kim đồng ý triều yết vua Bảo Đại ngày 7-4-1945. Gặp xong, ông thay đổi ý kiến.
Hoàng Xuân Hãn kể lại như sau: “Cụ [Trần Trọng Kim] hỏi tôi thì tôi cũng nói với cụ nên gặp ông Bảo Đại, rồi có ý gì thì cụ nói sau, chứ cụ đừng có nói trước. Cụ cứ bảo: “Bảo Đại là một cái anh chỉ biết ăn chơi, không hiểu cái gì cả”. Cụ cứ nói như thế. Sau cụ vào thăm ông Bảo Đại thì cụ ngồi đến 2, 3 giờ đồng hồ cơ. Lúc ra thì trái lại, lại thấy cụ nói: “Nó thông minh lắm chứ không phải như tôi tưởng.” (Hoàng Xuân Hãn trả lời phỏng vấn đài R.F.I (Paris) do Thụy Khê thực hiện, đăng lại trong mục “Những cuộc tiếp xúc khó quên”, sách La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), do Hữu Ngọc – Nguyễn Đức Hiền sưu tập, tập I, Con người và trước tác (phần 1), Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 1998, tr. 481.)
Trong cuộc triều yết nầy (7-4), Trần Trọng Kim đề nghị với vua Bảo Đại nên mời Ngô Đình Diệm lập chính phủ. Nhà vua liền nhờ người Nhật tìm kiếm ông Diệm để mời ông ra chấp chánh. Người Nhật trả lời không kiếm được ông Diệm, mặc dầu ông Diệm đang sinh sống tại Sài Gòn. Theo Trần Trọng Kim, có thể vì ông Diệm thuộc phe cánh Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, mà cuối thế chiến thứ hai, Nhật không chọn Cường Để và chọn vua Bảo Đại, nên Nhật cũng không mời ông Diệm. (Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tt. 49-50.)
Vua Bảo Đại đợi ba tuần lễ mà không gặp được Ngô Đình Diệm, nên nhà vua uỷ cho Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các. Lúc đầu, Trần Trọng Kim từ chối, thì vua Bảo Đại nói: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.” Sau lời thuyết phục của vua Bảo Đại, Trần Trọng Kim “thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng: “Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, song ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 51.
Trần Trọng Kim thấy hữu lý nên chấp thuận. Ông đưa ra hai tiêu chuẩn để chọn bộ trưởng vào chính phủ: “Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 51.)
Ngày 17-4-1945, tại điện Thái Hòa (Huế), Trần Trọng Kim trình danh sách chính phủ lên vua Bảo Đại và được chuẩn y. Lúc đó, có cả sự hiện diện của viên đại sứ Nhật tại Huế là Massayuki Yokohama. Nội các Trần Kim gồm đa số là những chuyên gia và trí thức: “Tất cả những vị nầy đều là những vị ái quốc chân thành. Họ không hận thù gì nước Pháp. Trẻ tuổi, can đảm, ý thức được nhiệm vụ ngắn ngủi của mình, họ muốn rằng chủ quyền quốc gia được đánh dấu khởi đầu từ họ.” (Bảo Đại, sđd. tr. 167.)
Sau đây là thành phần chính phủ Trần Trọng Kim tại Huế ngày 17-4-1945:
Nội các Tổng trưởng [thủ tướng] : Trần Trọng Kim, giáo sư
Nội vu Bộ trưởng : Trần Đình Nam, y sĩ
Ngoại giao Bộ trưởng : Trần Văn Chương, luật sư
Tư pháp Bộ trưởng : Trịnh Đình Thảo, luật sư
Gíáo dục và Mỹ nghệ Bộ trưởng : Hoàng Xuân Hãn, toán học thạc sĩ
Tài chánh Bộ trưởng : Vũ Văn Hiền, luật sư
Thanh niên Bộ trưởng : Phan Anh, luật sư
Công chánh Bộ trưởng : Lưu Văn Lang, kỹ sư [Không nhận]
Y tế Bộ trưởng : Vũ Ngọc Anh, y khoa bác sĩ
Kinh tế Bộ trưởng : Hồ Tá Khanh, y khoa bác sĩ
Tiếp tế Bộ trưởng : Nguyễn Hữu Thí, cựu y sĩ
(Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tt. 52-53.)
https://nghiencuulichsu.com/…/…/16/chinh-phu-tran-trong-kim/



  • Hà Anh Tuấn Đọc cuốn Nho học của cụ, lay lắt mãi mới xong. Dài và quy mô, kỳ công, uyên bác...mình đọc còn mệt, thế mà cụ viết 1 đống sách như vậy. Thế mới thấy khâm phục cụ.
    7
  • Lê Hoàng Long Cp Trần Trọng Kim có nhiều ưu điểm: lần đầu tiên tuyên bố độc lập và đi theo mô hình quân chủ lập hiến, dùng chữ quốc ngữ để điều hành, nội các là những người yêu nước, không đồng ý để Nhật đánh VIệt Minh để tránh đổ máu... Có nhiều nhược điểm: do Nhật lập ra, phụ thuộc vào Nhật nên không thu hút quần chúng cũng như trí thức, họ tin tưởng Việt Minh nên họ đã làm cuộc CMT8 để cướp chính quyền dễ dàng, không có quyền tự quyết cao cả về chính trị, ngoại giao, không có quân đội và hệ thống bảo an rất yếu, không có biện pháp hiệu quả để ngăn nạn đói, chắc chắn không được phe Đồng minh công nhận do thân Nhật...
    9
    • Hoang Nguyen bom đạn của Đồng minh làm gián đoạn hoàn toàn giao thông Nam bắc thì lấy cái gì mà cứu đói ? k đưa được lương thực trong nam ra thì chịu chết.
  • Lê Quang Sử Lương thực cứu đói từ miền nam chở ra đêù bị Việt Minh chặn cướp, cướp lương thực là chính sách của VM, thế là miền bắc đói vêu mồm, các cụ thế hệ trước 193X ở miền trung bộ vẫn còn sống nhiều đến sau này làm nhân chứng sống kia mà! Giờ thì chắc đã đi cả rồi. Chiến trường thế chiến thứ 2 của đồng minh thì VN bé tẹo
    4
  • Lê Hoàng Long Lê Quang Sử bạn có cái nguồn nào nói VM cướp hết gạo từ miền nam ra cứu đói không. Mình đọc Việt Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim không thấy nói
  • Lê Hoàng Long Hoang Nguyen thời kì đó nhạc sỹ Phạm Duy vẫn theo gánh hát Đức Huy ra bắc vào nam mà không bị cản trở gì lắm đâu bạn
  • Nguyên Võ Nghe nổi xe chở gạo cứu đói ra bắc bị chỉ điểm là xe của phát xít nhật nên bị đánh bom. Còn ai chỉ thì tự tìm hiểu :)
    1
  • Viết phản hồi...




  • Lâm Kiểm Nguyễn Chánh phủ Trần Trọng Kim thân Nhật với lý do là người Nhật ủng hộ (ban phước) khi họ biết ngày cáo chung của chế độ phát xít.

    Nội các ôn hòa, trí thức của ô Kim nhẽ ra liên hệ sớm với Việt Minh?

    Có những bằng chứng Việt Minh không thù ghé chính phủ non tơ này. Và rất có thể ô HCM muốn CP liên Việt độc lập hướng đồng minh như ông đã gởi thư cho Truman.
    1
  • Toan Dao Cụ kim là một bậc trí thức đáng kính trọng, kể cả việc chính phủ cụ lập ra cũng có vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử
  • Duc Dien Dinh Xứng đáng là đày tớ trung thành của nhân dân.
  • Ngoc Thai Ông còn là bố nuôi của nhạc sĩ Phạm Duy.
    2
  • Trần Văn Phương Ngoc Thai phải không bạn có hình ảnh không bạn
  • Ngoc Thai Tôi không comment được bằng hình ảnh. Nhưng bạn tìm đọc hồi ký ns Phạm Duy sẽ rõ. Hồi ký tập 1, trang 17, 18.
    1
  • Viết phản hồi...




  • Trần Trung Kiệt Quá ngắn ngủi !
    1
  • Lương Việt Tùng Ông Trần Trọng Kim có trình độ rất cao, tiếc chính phủ của ông không có nền tảng tốt chỉ dựa vào một phần giới tri thức VN thời bấy giờ và sự hậu thuẫn của Đại Đông Á, trong khi VN lúc này phần lớn chỉ là culi thất học và nông nô chiếm đa số vì thế triết lý quốc gia của ông chưa được thực thi thì đã nhanh chóng nhường toàn bộ chính quyền cho Việt Minh kể cả lực lượng an ninh chính( bộ thanh niên), phải nói giỏi mà không gặp thời và nhân tài cũng vô dụng.
    PS: rất thích biên lược sử VN của ông vì cái nhìn rất thời cuộc và chi tiết, ngoài ra còn có bàn về " Trung Dung" cái nhìn của bật tri thức về sự thất bại, nó khá hay và lạ.
    • Hoang Nguyen thời loạn đó ông Diệm làm thủ tướng thì tốt hơn ông Kim. vì dù sao thì ông Diệm và em ông ấy cũng là người có nhiều mưu mẹo và có khả năng làm chính trị. ông Kim là học giả đơn thuần hợp với thời bình hơn. Sai lầm lớn nhất của ông ấy là thả tụi Vẹm ra khỏi tù. Đáng nhẽ phải nhân tiện khử hết đi. hehe
      1
  • Nguyên Võ Rốt cuộc đưa công nhân và nông dân lên lãnh đạo nên nó như bây giờ :)
    3
  • Viết phản hồi...




  • Mai Phúc Thành Tôi nghĩ chánh phủ Trần Trọng Kim có bộ khung là những người trí thức, uyên bác, có tâm huyết với tiền đồ tương lai dân tộc.
    Họ là 1 thượng tầng lãnh đạo lý tưởng để xây dựng đất nước mau phát triển nhưng chưa có thực lực vì hạ tầng là lực luợng thì kh
    ông có hoặc có thì lỏng lẻo còn rất non yếu. Thế nên sớm nở tối tàn
    Trải qua cuộc bể dâu... nhiều khốc liệt, xem mọi sự như là trong định số nhiều truân chuyên của dân tộc Việt Nam
    4
  • Mạnh Cường Giáo sư, nhà sử học, nhà nghiên cứu và phê bình văn hoá, tôn giáo, giáo dục lỗi lạc của Việt Nam.
    1
  • AB Bùi Giá như ông Diệm nhận lời làm thủ tướng khi đó để lập nội các , chắc lịch sử dân tộc sẽ đi theo một hướng khác ....😔😔
    2
  • Đàm Cái Bang Giá như chính phủ của ông Trần Trọng Kim đứng vững và thoả thuận được với phe Đồng Minh thì ... Mà thôi âu cũng là vận nước
    6
  • Cảnh Nguyễn Ngọc Chỉ tồn tại trong thời gian ngắn xong chính phủ của Cụ đã làm được nhiều việc có ích cho dân cho nước ...Chuyển gạo cứu đói từ Nam ra Bắc , Đặt lại các tên Đường ở HN , Vận động thống nhất ba miền ... Không như những gì mà người ta sau này khoác cho CP của Cụ là ...Bù nhìn .
    4
  • Đông Mai Theo cuốn hồi ký của Trần T. Kim , ông ta là một người bạc nhược cả về thể chất lẫn tinh thần! Ông ta sắm vai kéo màn cho môt chính phủ mờ nhạt, không đáng để ý trong lịch sử!
  • Trần Văn Phương Ông cứu họ mà họ nỡ lấy oán báo ân
  • Điêu Khắc Hoàng Dũng Đã từng có một chánh phủ như vậy trước Việt Minh. Nhưng Việt Minh đã gian manh cướp mất, để đất nước 30 năm khói lửa tương tàn. Để thù Bắc, giặc Tây Nam suốt 15 năm, loay hoay bao cấp thời chiến, để tụt hậu và lệ thuộc Bắc Tàu mãi chả thoát ra được. Để giờ thân cò chống chọi mãnh hổ. Để cs bịp bợm dài dài!
    2
  • Vũ Quang Hợp MỘT CƠN GIÓ BỤI .
  • Toan Nguyen Van Bánh xe lịch sử, thật tiếc cho dân tộc khi bánh xe quay chệch hướng, hệ lụy ngày nay họ gây ra khôn lường, khó sửa chữa trong thời gian dài. Lãnh đạo đất nc phải là giới tinh hoa, tri thức, cống hiến và phụng sự cộng đồng, nhân dân, k hề vụ lợi, k thể là giới búa liềm, bần cố nông đc.
  • Viết phản hồi...




  • Chau Ngoc Long Mình thấy ý nghĩa lá cờ rất hay! Nền vàng mang đậm tính dân tộc có từ thời bà Trưng, dân tộc mình là da vàng, quẻ ly ở giữa cũng hay nói lên đc địa lí , địa dư của người Việt! Sau này nếu có thay đổi lá cờ mình nghĩ ở giữa vẽ hình một con rồng thời Lys màu đỏ( con rồng cháu tiên).
    3
  • Trần Văn Phương Hình ảnh :về Trần Trọng Kim đâu bạn
  • Chu Đức Chuyên 1 tầng lớp trí thức , tinh hoa bị bôi nhọ đến tận giờ.
  • Hoang Nguyen bôi nhọ thì chúng nó mới giành công được chứ. bọn cướp đó nó cướp đủ thứ.
    4
  • Nguyên Võ Bây giờ nó mới biết cướp là xấu nên đề nghị bỏ từ "cướp chính quyền" :)
    3
  • Hoang Nguyen Nguyên Võ phản đông vãi lồn
  • Viết phản hồi...




  • Nhut Nguyen Nhiều cơ hội người Việt đã bỏ qua
  • Hoang Tran Bước ngoặc của nước Việt, từ đó tri thức, học vấn bị diệt trừ để cho bọn thất học, bần nông thống trị. Hệ luỵ mãi cho đến sau này vẫn không cứu vãn được, bọn thất phu vẫn định đoạt vận mệnh dân tộc.
    6
  • Ly Quang Hong Phuoc nhìn phong độ quá...
  • Lâm Kiểm Nguyễn Chánh phủ này không có Bộ quốc phòng...tránh đòm gây thù chuốc oán. Nhưng đó là sai lầm vì Lệ thần không hiểu nguyên tắc Nhà nước và vũ trang.
  • Van Bo Hoang Trong thời hùm sói gầm thét các cụ trí thức ko sao cầm cự nổi . .
  • Duc Dien Dinh Chính phủ của Thủ tướng Trần Trong Kim có thể tránh được cuộc chiến tranh với Pháp sau này.
    2
  • Phu Nguyen Tiếc cho một vn
  • Tohko Amano Và sách sử ghi lại là chính phủ bù nhìn🤨







Trần Gia Phụng

Sau khi vua Bảo Đại công bố Bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ngày 11-3-1945, Phạm Quỳnh cùng toàn thể thượng thư sáu bộ trong triều đình Huế xin từ chức. Vua Bảo Đại triệu tập nhân sĩ khắp nước đến gặp, để thăm dò việc thành lập chính phủ mới.
TRẦN TRỌNG KIM LẬP CHÍNH PHỦ
Lúc đó, người Nhật đưa Trần Trọng Kim từ Singapore về Sài Gòn ngày 30-3-1945, rồi đưa ông ra tới Huế ngày 5-4-1945. Trần Trọng Kim sinh tại Hà Tĩnh năm 1883, học trường Vinh, rồi trường Thông sự Ninh Bình. Năm 1905, ông qua Pháp, học trường Thương mại La Salle tại Lyon, sau chuyển qua trường Thuộc Địa Pháp, rồi trường Sư Phạm Melun.
Tốt nghiệp năm 1911, ông trở về nước dạy tại trường Trung học Bảo Hộ (Lycée du Protectorat) và trường Sĩ Hoạn (Hà Nội), rồi làm Thanh Tra Tiểu học Bắc Kỳ, hưu trí năm 1942. Ông viết nhiều sách nghiên cứu giá trị về văn chương, triết học, nhất là bộ Việt Nam sử lược, xuất bản lần đầu tại Hà Nội năm 1920.
Năm 1943, được tin bị người Pháp nghi ngờ, ông nhờ người Nhật đưa vào Sài Gòn cùng Dương Bá Trạc. Đầu năm 1944, hai ông qua Singapore. Tại đây Dương Bá Trạc từ trần vì bịnh phổi ngày 10-12-1944. Tháng 1-1945, Trần Trọng Kim đi Bangkok. Ông trở về nước sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945.
Là một nhà giáo và là một nhà nghiên cứu nghiêm túc, Trần Trọng Kim cho rằng vua Bảo Đại là vị vua ham ăn chơi, không chăm lo việc nước nên không muốn gặp. Tuy nhiên, theo lời khuyên của Hoàng Xuân Hãn, Trần Trọng Kim đồng ý triều yết vua Bảo Đại ngày 7-4-1945. Gặp xong, ông thay đổi ý kiến.
Hoàng Xuân Hãn kể lại như sau: “Cụ [Trần Trọng Kim] hỏi tôi thì tôi cũng nói với cụ nên gặp ông Bảo Đại, rồi có ý gì thì cụ nói sau, chứ cụ đừng có nói trước. Cụ cứ bảo: “Bảo Đại là một cái anh chỉ biết ăn chơi, không hiểu cái gì cả”. Cụ cứ nói như thế. Sau cụ vào thăm ông Bảo Đại thì cụ ngồi đến 2, 3 giờ đồng hồ cơ. Lúc ra thì trái lại, lại thấy cụ nói: “Nó thông minh lắm chứ không phải như tôi tưởng.” (Hoàng Xuân Hãn trả lời phỏng vấn đài R.F.I (Paris) do Thụy Khê thực hiện, đăng lại trong mục “Những cuộc tiếp xúc khó quên”, sách La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), do Hữu Ngọc – Nguyễn Đức Hiền sưu tập, tập I, Con người và trước tác (phần 1), Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 1998, tr. 481.)
Trong cuộc triều yết nầy (7-4), Trần Trọng Kim đề nghị với vua Bảo Đại nên mời Ngô Đình Diệm lập chính phủ. Nhà vua liền nhờ người Nhật tìm kiếm ông Diệm để mời ông ra chấp chánh. Người Nhật trả lời không kiếm được ông Diệm, mặc dầu ông Diệm đang sinh sống tại Sài Gòn. Theo Trần Trọng Kim, có thể vì ông Diệm thuộc phe cánh Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, mà cuối thế chiến thứ hai, Nhật không chọn Cường Để và chọn vua Bảo Đại, nên Nhật cũng không mời ông Diệm. (Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tt. 49-50.)
Vua Bảo Đại đợi ba tuần lễ mà không gặp được Ngô Đình Diệm, nên nhà vua uỷ cho Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các. Lúc đầu, Trần Trọng Kim từ chối, thì vua Bảo Đại nói: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.” Sau lời thuyết phục của vua Bảo Đại, Trần Trọng Kim “thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng: “Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, song ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 51.
Trần Trọng Kim thấy hữu lý nên chấp thuận. Ông đưa ra hai tiêu chuẩn để chọn bộ trưởng vào chính phủ: “Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 51.)
Ngày 17-4-1945, tại điện Thái Hòa (Huế), Trần Trọng Kim trình danh sách chính phủ lên vua Bảo Đại và được chuẩn y. Lúc đó, có cả sự hiện diện của viên đại sứ Nhật tại Huế là Massayuki Yokohama. Nội các Trần Kim gồm đa số là những chuyên gia và trí thức: “Tất cả những vị nầy đều là những vị ái quốc chân thành. Họ không hận thù gì nước Pháp. Trẻ tuổi, can đảm, ý thức được nhiệm vụ ngắn ngủi của mình, họ muốn rằng chủ quyền quốc gia được đánh dấu khởi đầu từ họ.” (Bảo Đại, sđd. tr. 167.)
Sau đây là thành phần chính phủ Trần Trọng Kim tại Huế ngày 17-4-1945:
Nội các Tổng trưởng [thủ tướng] : Trần Trọng Kim, giáo sư
Nội vu Bộ trưởng : Trần Đình Nam, y sĩ
Ngoại giao Bộ trưởng : Trần Văn Chương, luật sư
Tư pháp Bộ trưởng : Trịnh Đình Thảo, luật sư
Gíáo dục và Mỹ nghệ Bộ trưởng : Hoàng Xuân Hãn, toán học thạc sĩ
Tài chánh Bộ trưởng : Vũ Văn Hiền, luật sư
Thanh niên Bộ trưởng : Phan Anh, luật sư
Công chánh Bộ trưởng : Lưu Văn Lang, kỹ sư [Không nhận]
Y tế Bộ trưởng : Vũ Ngọc Anh, y khoa bác sĩ
Kinh tế Bộ trưởng : Hồ Tá Khanh, y khoa bác sĩ
Tiếp tế Bộ trưởng : Nguyễn Hữu Thí, cựu y sĩ
(Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tt. 52-53.)
CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM KHÔNG CÓ BỘ BINH
Đây là chính phủ đầu tiên của Việt Nam độc lập được tổ chức theo cơ cấu tây phương, gồm nhiều bộ. Đứng đầu mỗi bộ là một vị bộ trưởng phụ trách chuyên ngành. Tất cả những bộ trưởng trong chính phủ đều là những chuyên gia tân học, gồm một giáo sư, hai kỹ sư, bốn bác sĩ, bốn luật sư. Đặc biệt chính phủ nầy không có bộ Binh, hay bộ Quốc phòng, hoặc bộ An ninh.
Trước đây, sau khi vua Bảo Đại từ Pháp về cầm quyền năm 1932, Pháp cải tổ triều đình Huế ngày 2-5-1933, bộ Binh bị bãi bỏ. Nay chính phủ Trần Trọng Kim dưới quyền vua Bảo Đại cũng không có bộ Binh. Không biết lý do nào, một chính phủ được tổ chức theo lối mới, lại không có bộ Binh hay bộ Quốc phòng? Riêng Trần Trọng Kim, trong hồi ký của mình, giải thích như sau:
“Việc binh bị trong nước là việc quan trọng đến vận mạng cả nước, mà lúc ấy quân lính và súng ống không có. Ở kinh đô Huế có tất cả hơn một trăm lính bảo an, tức lính khố xanh cũ, và sáu bảy chục khẩu súng cũ, đạn cũ, bắn mười phát thì năm sáu phát không nổ. Ở các tỉnh cũng vậy, mỗi tỉnh có độ 50 lính bảo an, các phủ huyện thì có độ chừng vài chục người. Việc phòng bị do quân Nhật Bản đảm nhiệm hết. Vì lẽ đó và các lẽ khác nữa mà lúc đầu chúng tôi không đặt bộ Quốc phòng. Một là trong khi quân Nhật đang đóng ở trong nước, nếu mình đặt bộ Quốc phòng thì chỉ có danh không có thực, và người Nhật có thể lợi dụng bắt người mình đi đánh giặc với họ. Hai là trước khi mình có đủ binh lính và binh khí, ta hãy nên gây cái tinh thần binh bị, thì rồi quân đội mình mới có khí thế.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tt. 57-58.)
Tuy Trần Trọng Kim giải thích như thế, nhưng có hai dư luận bàn tán khác nhau về việc nầy: Thứ nhứt, người ta cho rằng chính phủ Trần Trọng Kim gồm toàn khoa bảng chuyên viên, ít hiểu biết về việc quân sự nên không thấy rõ tầm mức quan trọng của bộ Quốc phòng. Thứ hai, có thể người Nhật muốn nắm toàn bộ vấn đề quốc phòng mà không giao cho chính phủ Trần Trọng Kim, vì sợ chính phủ nầy theo Đồng minh, có thể bất ngờ tấn công Nhật. Làm như thế, Nhật còn buộc chính phủ Trần Trọng Kim lệ thuộc vào chính sách quân sự chung của Nhật tại Đông Nam Á.
Dầu sao, việc quốc phòng chỉ dựa trên quân Nhật là điều sẽ rất tai hại về sau, vì khi quân Nhật rút lui hay đầu hàng Đồng minh, thì chính phủ Trần Trọng Kim không có lực lượng quân sự để tự bảo vệ mình, bảo vệ an ninh lãnh thổ, và sẽ dễ dàng bị sụp đổ. Không tổ chức bộ Quốc phòng, chính phủ Trần Trọng Kim mở trường huấn luyện thanh niên, chú trọng đến việc phát triển phong trào thanh niên.
Cũng vì chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Quốc phòng, không có quân đội để giữ gìn an ninh, trật tự và bảo vệ chế độ, nên ở ngoài Bắc, Việt Minh bành trướng nhanh chóng mà không có ai ngăn chận và sau đó Việt Minh cướp chính quyền tháng 8-1945 chỉ với một lực lượng khoảng 5,000 đảng viên trên toàn quốc, (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Editions Du Seuil, Paris 1952, tr. 182.)
Về phần vua Bảo Đại, ngày 8-5-1945, nhà vua đưa ra chủ trương xây dựng một hiến pháp theo khẩu hiệu “Dân vi quý” của Mạnh Tử, và ngày 30-6-1945, nhà vua ban hành sắc dụ thành lập Hội đồng soạn thảo hiến pháp. Hội đồng mới bắt đầu làm việc, thì tình hình thay đổi nhanh chóng.
QUỐC HIỆU, QUỐC KỲ VÀ QUỐC CA
Bắt tay vào làm việc, trước hết vào ngày 4-5-1945, chính phủ quyết định quốc hiệu mới là Đế Quốc Việt Nam, chứ không dùng các danh xưng An Nam, Đại Nam hay Đại Việt.



Kinh đô Huế được đổi thành Thuận Hóa. Ngày 2-6-1945, chính phủ chọn quốc kỳ Việt Nam nền vàng, ba sọc đỏ theo hình quẻ ly. Quốc ca là bài “Đăng đàn cung”.
Quẻ ly là một trong tám quẻ đơn của bát quái trong kinh Dịch, gồm ba hào (vạch ngang): hào dương dưới cùng (một vạch ngang), hào âm ở giữa (một vạch ngang đứt ở giữa), và hào dương trên cùng (một vạch ngang). Ly vi hỏa là lửa, sáng màu đỏ. Theo quan niệm của Hậu thiên bát quái, ly đóng ở phương nam.
Như vậy, màu vàng của nền cờ quẻ ly vừa là màu cờ long tinh của hoàng gia (truyền thống), vừa tượng trưng cho “thổ”, thích hợp với quẻ ly để chỉ vị trí nước ta (phương nam), và cả về màu sắc (hỏa, màu đỏ, sinh thổ, màu vàng, theo ngũ hành tương sinh), đồng thời với ý nghĩa người Việt Nam máu đỏ da vàng. Sau đây là lời giải thích của Trần Trọng Kim về lá cờ do ông đưa ra:
“Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách Quốc sử diễn ca nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng: “Đầu voi phất ngọn cờ vàng”. Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ ly là vì trong lối chơi chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng, nói ở kinh Dịch, mà quẻ ly chủ phương nam. Chữ ly còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng phóng ra bốn phương.
Lấy sắc vàng là hợp với lịch sử, lấy quẻ ly là hợp với vị trí nước nhà lại có nghĩa chỉ một nước văn hiến như ta thường tự xưng. Như thế là lá cờ vàng quẻ ly có đủ các ý nghĩa.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd, tt. 60-61.)
Khi Trần Trọng Kim chọn cờ quẻ ly, ông cũng biết rằng “có người nói: cờ quẻ lý là một điềm xấu cho nên thất bại vì ly là lìa. Ly là lìa là một nghĩa khác chứ không phải nghĩa chữ ly là quẻ. Và việc làm của một chính phủ là cốt ở nghĩa lý, chứ không phải là sự tin nhảm vô ý thức.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 61.)
Trong khi đó, theo các nhà Nho học, bài thiệu về các quẻ trong bát quái có câu “càn tam mãn, ly trung hư”, tức quẻ càn gồm có ba vạch ngang đầy đủ, trong khi quẻ ly có vạch giữa bị đứt đoạn, nên các ông cũng cho đây là điềm không tốt.
Lời bài quốc ca “Đăng đàng cung” như sau:
“Kìa núi vàng bể bạc
Có sách trời… sách trời định phần!
Một dòng ta – gầy non sông vững chắc.
Đã ba ngàn mấy trăm năm!
Bắc Nam cùng một nhà con Hồng cháu Lạc.
Văn minh đào tạo
Màu gấm hoa càng đượm
Rạng vẻ dòng giống Tiên Long.
Ấy công gầy dựng
Từ xưa đà khó nhọc
Nhớ ơn dày nặng
Lòng trung quân đã sẵn
Cố thương nhau … thương nhau một niềm.
Nguyện nhà Việt muôn đời thạnh trị.”
(Lê Văn Lân, “Quốc kỳ và quốc ca Việt Nam thời quân chủ trong thế kỷ 20 qua”, Tuyển tập Nhớ Huế số 12, không đề năm, California, tr. 27.)
Như thế, vua Bảo Đại và Trần Trọng Kim đã hợp nhất hai nền hành chánh bảo hộ Pháp và địa phương Việt, nên ban đầu còn nhiều khó khăn trong buổi giao thời. Chính phủ nầy không tồn tại được lâu dài, nhưng cũng đặt định được một số nền tảng căn bản như chúng ta sẽ thấy trong hoạt động của chính phủ Trần Trọng Kim. (Trích: Bảo Đại (1913-1997), Toronto: Nxb. Non Nước, 2014.)
CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM TỪ CHỨC
Sau khi quân đội Nhật Bản ở Đông Dương đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945, đại sứ Nhật tại Huế là Massayuki Yokoyama đến yết kiến vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) tại điện Thái Hòa trong hoàng thành Huế sáng ngày 11-3, giải thích những hành động mới nhứt của Nhật Bản tại Việt Nam và tuyên bố muốn đem “châu Á trả về cho người châu Á”. Yokoyama còn nói rằng ông ta có “nhiệm vụ dâng nền độc lập” lên vua Bảo Đại, đồng thời kêu gọi Việt Nam cùng các nước Đông Dương gia nhập khối Đại Đông Á do Nhật Bản đứng đầu. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Xuân Thu, 1990, tr. 159.) Khối nầy do chính phủ Nhật Bản công bố thành lập ngày 1-8-1940.
Chiều 11-3-1945, vua Bảo Đại triệu tập cơ mật viện, các thượng thư và các hoàng thân để thảo luận tình hình mới. Cuộc họp đưa đến kết quả là nhà vua cùng các thượng thư Phạm Quỳnh (bộ Lại), Hồ Đắc Khải (bộ Hộ), Ưng Hy (bộ Lễ), Bùi Bằng Đoàn (bộ Hình), Trần Thanh Đạt (bộ Học) và Trương Như Đính (bộ Công), đồng ký bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP do Phạm Quỳnh soạn.
“Chiếu tình hình thế giớ nói chung và tình hình Á Châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay hiệp ước bảo hộ ký với Pháp [năm 1884] được bãi bỏ và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia.
Nước Việt Nam cố gắng tự lực, tự cường để xứng đáng là một quốc gia độc lập và sẽ theo đường hướng của bản tuyên ngôn chung của khối Đại Đông Á, hầu giúp đỡ nhau tài nguyên cho nền thịnh vượng chung.
Vì vậy, chính phủ nước Việt Nam đã đặt tin tưởng vào sự thành tín của nước Nhật, và đã có quyết định cộng tác với nước nầy, hầu đạt mục đích nói trên.
Khâm thử,
Huế, ngày 27 tháng giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại. (Bảo Đại, sđd. tr. 162.)
Như thế, sau hơn 60 năm bị Pháp bảo hộ từ hòa ước ngày 6-6-1884 , nay nước Việt Nam chính thức độc lập do tình hình thế giới biến chuyển và do sự can thiệp của Nhật Bản. Lúc đó tại Âu Châu, Pháp được giải phóng khỏi tay Đức Quốc Xã. Chính phủ Pétain thân Đức sụp đổ. Nhật Bản lo ngại nhà cầm quyền Đông Dương sẽ theo lệnh của chính phủ mới ở Paris do De Gaulle giữ chức thủ tướng lâm thời, bất ngờ tấn công quân Nhật tại Đông Dương, chận đường Nhật Bản lui quân về nước. Vì vậy, quân Nhật quyết định đảo chánh Pháp, nắm quyền kiểm soát Đông Dương, và tuyên bố trao trả nền độc lập cho Việt Nam.
Nền độc lập mới của Việt Nam khá bấp bênh vì Nhật Bản sắp thua trận, và vì Pháp không từ bỏ tham vọng đế quốc, sẽ kiếm cách trở lại Đông Dương. Dầu vậy, ở vị trí của triều đình Huế và vua Bảo Đại, đang lúc bị Pháp bảo hộ và kềm kẹp, mà được Nhật Bản giúp thoát ra khỏi tay Pháp, thì đây là cơ hội tốt nhất để được thay đổi, hy vọng có thể độc lập và tái xây dựng đất nước.
Sau khi công bố Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 11-3-1945, vua Bảo Đại triệu tập nhân sĩ khắp nước đến gặp, để thăm dò việc thành lập chính phủ mới. Trần Trọng Kim trình lên vua Bảo Đại danh sách chính phủ, gồm đa số là những chuyên gia và trí thức. Vua Bảo Đại chuẩn y ngay. Sau đây là nguyên văn đạo dụ số 5 của vua Bao Đại chuẩn y nội các Trần Trọng Kim:




Trong đạo dụ số 1 ngày mùng 4 tháng hai trước (dương-lịch 17-3-45), Trẫm đã chuẩn định một khoản về việc chiêu tập nhân tài để kiến thiết một nước Việt-Nam mới.
Sau đó, các Bộ-trưởng sung Cơ-mật Đại-thần xin từ chức. Trẫm đã chuẩn y và đã tuyên-triệu nhiều người về bệ-kiến. Mọi người đã tâu cho Trẫm biết rằng thần dân ai ai cũng có nhiệt tâm phụng-sự tổ-quốc và ao ước Nội-các mới mau thành lập.
Trẫm đã định giao quyền tổ-chức Nội-các mới cho nguyên Lại bộ thượng-thư Ngô-đình-Diệm và đã nhờ Quí-quan tối-cao Cố-vấn và sắc phong Ngự-tiền văn-phòng gửi thư và đánh điện tuyên triệu. Nhưng ngày hôm qua Quí-quan tối cao Cố-vấn phúc rằng Ngô khanh đau không về chầu được.
Nay vì việc nước không để chậm trễ được nữa, Trẫm chuẩn cho lập nội các như sau này:
Nội các Tổng-trưởng Trần-trọng-Kim
1) Nội-vu bộ bộ-trưởng : Trần-đình-Nam.
2) Ngoại-giao bộ bộ-trưởng : Trần-văn-Chương.
3) Tài-chánh bộ bộ-trưởng : Vũ-văn-Hiền.
4) Kinh-tế bộ bộ-trưởng : Hồ-tá-Khanh.
5) Tiếp-tế bộ bộ-trưởng : Nguyễn-đình-Thí.
6) Gíáo-dục Mỹ-thuật bộ bộ-trưởng : Hoàng-xuân-Hãn.
7) Tư-pháp bộ bộ-trưởng : Trịnh-đình-Thảo.
8) Công-chánh giao-thông bộ bộ-trưởng : Lưu Văn Lang.
9) Y-tế cứu-tế bộ bộ-trưởng : Vũ-ngọc-Anh.
10) Thanh-niên bộ bộ-trưởng : Phan-Anh.
Trong sự lựa chọn người Trẫm rất chú ý đến việc Quốc-gia hợp nhất.
Trẫm mong rằng chư khanh sẽ đồng tâm hiệp lực mà giúp Trẫm thế nào cho sự kiến thiết nền độc-lập Tổ-quốc trong cõi Đại-đông-Á mau có hiệu quả, cho khỏi phụ công ơn nước Đại-nhật-bản đã giải phóng cho nước ta, cho đẹp lòng Trẫm tin cậy chư khanh và thỏa lòng hai mươi triệu quốc-dân trông đợi chính phủ mới.
Khâm thử
Phụng ngự ký “BẢO ĐẠI”
Giáng dụ tại lầu Kiến-trung ngày 9 tháng 3 năm Bảo Đại 20 (Dương-lịch ngày 17 tháng tư năm 1945). (Nguyễn Duy Phương, Lịch-sử và nội-các đầu tiên Việt-Nam, Hà-Nội: Việt-Đông xuất- bản cục, 1945, tr. 4.) (Sách dày 62 trang lớn, trích nguyên văn cả chính tả lúc đó.)
Trở lại triều đình Huế, trong cuộc họp nội các đầu tiên ngày 3-5-1945, vua Bảo Đại tuyên chiếu như sau:
Chư Khanh,
Nội-các này là Chính-phủ đầu tiên của nước Việt-Nam độc lập sau 80 năm thuộc quyền ngoại-quốc thống-trị.
Trong thời gian đó dưới chánh thể eo hẹp của người ngoài, dẫu có người tài năng ra giúp nước cũng không thể thi thố được gì.
Nay nhờ được Hoàng quân Đại Nhật-Bản, nước nhà đã được giải phóng.
Những người ra gánh vác việc nước ngày nay là được một cái danh dự tối cao, mà cũng là đương một trách nhiệm rất to, và chịu một sự hy-sinh rất nặng.
Trẫm đã lựa chọn khắp nhân tài trong nước, kén lấy những người có học thức, có đức hạnh, có kinh nghiệm đủ đương việc nước trong buổi bây giờ. Trẫm chắc rằng Chư Khanh sẽ làm trọn chức vụ không phụ lòng Trẫm ủy-thác và lòng dân kỳ vọng.
Điều cần nhất là phải gây sự đồng tâm hiệp lực trong toàn thể quốc dân, phải đoàn kết chặt chẽ các giai tằng xã hội, và luôn luôn giữ một mối liên lạc mật thiết giữa Chánh phủ và nhân dân.
Chính phủ ngày nay không phải phụng sự một cá nhân hay một đảng phái nào cả.
Quốc dân phải đồng tâm hiệp lực, lại phải nỗ lực cần cù nữa. Dân nô lệ nhất thiết ỷ lại ở người; dân độc lập nhất thiết trông cậy ở mình. Trông cậy ở mình thì phải gắng sức và hy sinh nhiều mới mong sinh tồn phát đạt được ở giữa cõi đời cạnh tranh kịch liệt ngày nay.
Dân một nước độc lập là dân biết ham tự do mà cũng biết trọng kỷ luật, biết giữ trật tự nữa. Dân biết trọng kỷ luật, giữ trật tự thì sự trị an được dễ dàng, và chính-phủ mới lo cải tạo quốc gia được.
Muốn cải-tạo quốc-gia, chính-phủ cần hành động cho quy-củ nghĩa là phải có hiến pháp.
Hiến pháp tương lai của Việt-Nam sẽ căn cứ vào sự hợp nhất quốc-gia, sự quân dân cộng tác, và những quyền tự do chính-trị tôn-giáo cùng nghiệp-đoàn của nhân-dân.
Một hội-nghị lập-hiến sẽ căn cứ và những nguyên tắc kể trên mà khởi thảo một bản hiến-pháp.
Nhưng trong lúc chiến-tranh và cớ-căn này, những vấn-đề về quốc-kế dân-sinh rất là phiền-phức và khẩn-cấp. Chính phủ phải cá đủ quyền mà giải quyết những vấn đề đó cho mau chóng.
Còn về phương diện dân, sẽ có những cơ quan, cố vấn đặt trong toàn quốc, hay trong các địa phương để bày tỏ ý kiến với chính-phủ và liên-lạc chính-phủ với nhân-dân.
Đồng thời, một ủy ban sẽ nghiên-cứu những sự cần cải cách gấp, như việc nghi-lễ, quốc-kỳ và quốc ca vân vân…
Trẫm biết nó dễ mà khó: trên con đường độc lập của nước nhà còn biết bao nhiêu là nỗi khó khăn, nhưng Trẫm tin rằng một dân tộc hơn hai mươi triệu người như dân Việt-Nam ta, đã có hai nghìn năm lịch sử vẻ vang oanh liệt chẳng kém gì người, sẽ đủ sức vượt qua mọi sự khó khăn, đủ sức gánh một phần trách nhiệm trong việc kiến-thiết nền thịnh vượng chung ở Đại-Đông-Á và đi tới địa vị một dân-tộc hùng-cường trong thế-giới được.
Thuận-Hóa ngày 27 tháng 3 năm Bảo-Đại 20
(Dương lịch ngày 3 tháng 5 năm 1945) (Nguyễn Duy Phương, sđd. tt. 5, 6.)
Chiếu chỉ trên đây cho thấy vua Bảo Đại chủ trương đoàn kết dân tộc, dân chủ hóa đất nước, triệu tập quốc hội lập hiến, xây dựng hiến pháp và kêu gọi dân chúng cùng nhau nỗ lực kiến thiết quốc gia vững mạnh. Sau chiếu chỉ của nhà vua, chính phủ Trần Trọng Kim đưa ra bản tuyên cáo sau đây với quốc dân:
Ngày 25 tháng giêng năm Ất-dậu tức là ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật-bản đã đánh đổ quyền của người Pháp trong toàn hạt Đông-dương. Sau đó, đức Kim-Thượng đã tuyên bố nước Việt-Nam độc-lập. Đồng thời, thủ tướng Koiso bá cáo rằng nước Nhật không tham vọng lĩnh thổ nước ta.
Thế là hơn 80 năm bị áp chế nước ta đã khôi phục nền tự chủ và địa vị của một nước văn hiến ở cõi Á-đông.
Chúng ta không thể quên ơn nước Đại Nhật-bản đã giải phóng cho ta, không thể quên ơn đức Kim-thượng đã quả quyết dắt dân ta lên đường độc-lập, không thể quên ơn bao nhiêu nghĩa sĩ xưa nay đã hy sinh để nêu cao cái tinh thần phấn đấu của giống nòi.
Muốn giữ vững nền độc-lập; quốc dân ta còn phải gắng sức làm việc, và chịu nhiều sự hy-sinh nữa. Vừa mới được giải phóng nước ta không thể nghĩ tới sự chiến tranh với ai nhưng ta phải thành thực hợp tác với nước Đại Nhật-bản trong sự kiến thiết nền Đại-đông-Á. Vì cuộc thịnh vượng chung của Đại-đông-Á có thành, thì sự độc-lập của nước ta mới không phải là giấc mộng thoảng qua.
Hiện nay thế giới còn trong vòng chiến-tranh nên công việc kiến-thiết quốc gia còn nhiều nơi khó. Bọn dân của quân Mỹ không những tàn sát kẻ vô tội, mà còn cản trở sự giao thông khiến cho mấy mươi vạn nhân dân sinh trên khoảng đất phì nhiêu mà đành chết đói.
Tuy tình thế khó khăn, nhưng trên nhờ lòng tin cậy của Đức Kim-thượng, dưới nhờ sức ủng hộ của quốc dân, ngoài tin vào lòng thành thực của nước Đại Nhật-bản, chúng tôi hết sức theo đuổi mục đích là hợp nhất tất cả các phần tử quốc dân để củng cố nền độc-lập của quốc-gia và gây mạnh tinh thần yêu nước trong mọi giai-tằng xã-hội.
Chính phủ sẽ lập một kỷ niệm đài để ghi công các bậc anh-hùng đã hy-sinh vì nòi giống; sẽ tìm mọi cách để các chính khách còn phiêu được trở về tổ quốc; sẽ xóa bỏ những hình án bất công để những người ái-quốc còn bị giam cấm trong lao ngục có thể tùy tài sức mà tham dự vào cuộc kiến-thiết quốc-gia.
Ngoài việc tiếp-tế lương-thực cho nhân dân và việc chẩn cấp cho hàng triệu người đương khủng bố về nạn đói ở miền bắc, thuế khóa sẽ dần dần định lại cho công bằng, và cho Nam chí Bắc; thuế ngạch thành duy nhất.
Công cuộc kiến-thiết quốc-gia sẽ cần đến tài lực và nhiệt tâm của tất cả mọi người trong nước. Đoàn kết quốc dân để gây thành một mãnh lực, đặt những cơ quan để liên lạc mật thiết chính phủ với dân chúng, đó là những việc mà Nội-các sẽ chú ý đặc-biệt.
Nội các sẽ trù tính cách thống nhất pháp-luật trong toàn quốc và để tránh sự lạm quyền hành chính và tư pháp.
Nạn tham nhũng là cái tệ dung túng từ trước cần phải trừ cho tiệt. Nước ta đã buộc vào một kỷ nguyên mới, kẻ nào không biết cải tà quy chính sẽ phải trừng trị rất nghiêm.
Vận nước mai sau là cốt ở thanh niên bây giờ; cho nên Chính-phủ rất chú trọng đào tạo những người mạnh mẽ, khí khái, có nghề nghiệp, có tổ chức, có huấn luyện để bảo vệ nền độc lập đương xây.
Về phương diện kinh tế, trong lúc chiến tranh chưa kết liễu và phải sống cách biệt với ngoài, nước ta chưa có thể thực hành ngay một chương trình to tát. Nhưng chính phủ sẽ dự bị một cuộc tổ chức mới, chú trọng nhất là nâng cao trình độ sinh hoạt dân chúng. Muốn thi hành chính sách ấy, tuy quốc gia phải đảm nhận một phần lớn trách nhiệm nhưng cũng cần sự hợp tác của tất cả các đoàn thể và cá nhân.
Lĩnh mệnh của Đức Kim-thượng, đương trách nhiệm nặng nề đối với quốc dân, chúng tôi hiểu rõ rằng bước đầu phải đi, mà phải đi rất thận trọng. Chúng tôi xin tuyên-thệ với quốc dân đem hết tâm trí để theo đuổi mục đích duy nhất là xây đắp nền độc lập nước nhà không tư vị cá nhân hay đảng phái. Chúng tôi chắc rằng mọi người trong quốc dân cùng một lòng vì nước giữ thái độ bình tĩnh và tuân theo kỷ luật để làm hết phận sự. Mong nền móng xây đắp được vững vàng để cơ đồ nước Việt-nam ta muôn đời trường cửu.
(Nguyễn Duy Phương, sđd. tt. 6, 7.)
Theo bản tuyên cáo nầy, chính phủ Trần Trọng Kim hứa hẹn sẽ thực hiện các chính sách sau: Về đối ngoại, chính phủ cảm ơn và liên kết, hợp tác với Nhật Bản vì theo ông “cuộc thịnh vượng chung của Đại-đông-Á có thành, thì sự độc-lập của nước ta mới không phải là giấc mộng thoảng qua.” Chỉ vài tháng sau, Nhật Bản sụp đổ, thì đúng là chính phủ Trần Trọng Kim chỉ là “giấc mộng thoảng qua”. Lúc đó, quân đội Đồng minh nhất là Không quân Mỹ oanh tạc nặng nề các trục lộ giao thông, đường xe lửa Bắc Nam, thuyền bè dọc duyên hải, gây trở ngại cho việc chuyên chở lương thực từ miền Nam tiếp tế cho đồng bào đang bị đói ở Bắc Việt, nên chính phủ đã lên án “bọn dân của quân Mỹ không những tàn sát kẻ vô tội, mà còn cản trở sự giao thông khiến cho mấy mươi vạn nhân dân sinh trên khoảng đất phì nhiêu mà đành chết đói.”
Về đối nội, chính phủ Trần Trọng Kim hứa hẹn đoàn kết toàn dân, giải quyết nạn đói ở ngoài Bắc, thống nhứt luật pháp, định lại thuế khóa, tiêu diệt tham nhũng, và long trọng tuyên thệ sẽ đem hết tâm trí, sức lực để phục vụ đất nước.
Chính phủ Trần Trọng Kim quả thực đã giữ đúng lời hứa, vì tuy chỉ tồn tại khoảng bốn tháng và sụp đổ sau khi Nhật Bản đầu hàng ngày 14-8-1945, nhưng chính phủ nầy đã thực hiện được nhiều công trình đáng kể: cứu đói ở Bắc Kỳ, hợp nhứt hai nền hành chánh Pháp và hành chánh Việt Nam dưới thời Pháp thuộc thành nền hành chánh duy nhứt Việt Nam, hợp nhứt Bắc Kỳ và Nam Kỳ vào chính phủ trung ương Việt Nam, dùng chữ quốc ngữ làm chuyển ngữ chính thức trong hành chánh và trong giáo dục, thi cử, mở trường huấn luyện thanh niên, phát triển phong trào thanh niên trên toàn quốc, thành lập ủy ban soạn thảo hiến pháp, ủy ban cải cách văn hóa, giáo dục, xã hội, nhưng rất tiếc các ủy ban chưa hoạt động được thì chính phủ sụp đổ.
Điểm đặc biệt là chính phủ Trần Trọng Kim được Nhật hậu thuẫn, nhưng từ khi thành lập cho đến khi giải tán, chính phủ nầy hoạt động độc lập và không lệ thuộc người Nhật.
Tóm lại, ngoài cố gắng cứu đói ở Bắc Kỳ, chính phủ Trần Trọng Kim đã đặt nền móng căn bản cho nền hành chánh tương lai Việt Nam, và quan trọng nhứt là chương trình giáo dục của Hoàng Xuân Hãn rất hữu ích cho sự phát triển nền văn hóa giáo dục Việt Nam ngày nay.
(San Jose, 25-6-2016)