Thursday, February 29, 1996

SÁCH, CÁC KIỂU DÓNG SÁCH VÀ TÊN GỌI CÁC BỘ PHẬN CỦA MỘT CUỐN SÁCH CỔ





SÁCH, CÁC KIỂU ĐÓNG SÁCH VÀ
TÊN GỌI CÁC BỘ PHẬN CỦA MỘT
CUỐN SÁCH CỔ
Gần đây, việc sưu tầm, chỉnh lý, giới thiệu thư tịch Hán Nôm được đặc biệt quan tâm và đẩy mạnh. Đấy là hiện tượng đáng mừng.
Để góp phần giúp các nhà sưu tầm, nghiên cứu Hán Nôm có một ngôn ngữ chung, tránh tình trạng dùng thuật ngữ không thống nhất khi miêu thuật thư tịch cổ như thỉnh thoảng vẫn thấy, bài viết này xin bàn về sách, các kiểu đóng sách và tên gọi các bộ phận của sách theo truyền thống phương Đông mà nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản v.v. hiện vẫn quan niệm và sử dụng.
Trước hết, hãy nói “sách” là gì. Thiên Đa sĩ ở Thượng thư có câu “Riêng tổ tiên người Ân có sách có điển (Duy Ân tiên nhân hữu sách hữu điển). Trong số văn tự giáp cốt khai quật được ở Ân Khư, kinh đô cũ của nhà Ân, nay thuộc huyện An Dương tỉnh Hà Nam của Trung Quốc, người ta thấy có hai chiếc mai rùa được gắn vào nhau, trên khắc hai chữ “sách lục” tức “sách thứ sáu”. Các chữ “sách” ở đây đều được viết là 冊, giống hình một số mai rùa hoặc xương thú ghép lại với nhau, có dây xuyên qua. Còn chữ “điển” thì được viết là@, giống hình hai bàn tay đang nâng niu, gìn giữ, bảo vệ sách. Chữ “sách” sau đó được viết gọn hơn, thành 冊, hình thù có khác trước chút ít, nhưng tính chất tượng trưng thì vẫn như cũ, thậm chí thể hiện còn rõ hơn. Bộ sách sớm nhất của phương Đông ra đời cách đây trên 3000 năm mà ngày nay còn có thể thấy được qua “sách lục” vốn dĩ là như vậy. Nó mang đến cho chúng ta chí ít hai thông tin quan trọng: thế nào là sách và kỹ thuật đóng sách thuở ban đầu.
Khái niệm “sách” về sau không thay đổi là bao, trong khi kỹ thuật đóng sách thì luôn luôn được cải tiến theo hướng phù hợp với vật liệu dùng để khắc hoặc viết chữ, đồng thời cũng nhằm giúp cho việc sử dụng sách này ngày thêm thuận tiện. Vậy là hình thành cả một lịch sử về kỹ thuật đóng sách.
Loại sách làm bằng mai rùa, xương thú ghép lại như trên, kỹ thuật còn sơ sài: gắn bằng keo hoặc xâu bằng dây các chiếc mai rùa hay xương thú lại với nhau. Kiểu đóng sách này được đời sau gọi là “quy sách” 龜 冊 .
Việc dùng mai rùa, xương thú để ghi chữ vừa khó khăn trong chế tác, vừa bất tiện lúc sử dụng, đặc biệt là khi mà nhu cầu viết và đọc tăng lên. Vì vậy từ cuối đời Xuân Thu trở về sau, vật liệu dùng để khắc hoặc viết chữ dần dần được thay thế bằng thẻ tre gọi là “trúc giản” 竹 簡 . hay thẻ gỗ gọi là “mộc giản” @ 簡. Kỹ thuật đóng sách tương ứng là dùng dây da hoặc dây tơ tằm bện các thẻ tre, thẻ gỗ lại với nhau. Có thể biết điều này qua đoạn văn sau đây ở thiên Khổng Tử thế gia trong Sử ký: “Khổng Tử vào cuối đời thích Kinh Dịch, đọc Dịch nhiều đến nỗi làm cho dây bện thẻ đứt ba lần” (Khổng Tử vãn hỉ Dịch, độc Dịch vĩ biên tam tuyệt). Chữ “sách” trong giai đoạn này thường được viết giả tá là 策 . Mỗi sách bao gồm một nội dung trọn vẹn, gọi là “thiên” 篇 . Cũng có khi sách dài đến mấy “thiên”. Kiểu đóng sách này được đời sau gọi là “giản sách” 簡 策 hay “giản độc” 簡 牘 .
Đến đầu thời Chiến quốc, bên cạnh thẻ tre, thẻ gỗ được sử dụng phổ biến, người ta cũng thử nghiệm dùng lụa làm vật liệu ghi chữ. Với lụa, một thứ vừa mềm vừa nhẹ, kỹ thuật đóng sách cũng giống như đối với thẻ tre, gỗ. Viết chữ lên lụa xong, người ta cuốn lụa chung quanh một cái trục, gọi là “quyển” 卷 . Mỗi quyển là một đơn vị văn bản trọn vẹn. Mỗi sách có thể gồm một đến nhiều quyển. Kiểu đóng sách này được đời sau gọi là “bạch thư” 帛 書 .
Sách bằng thẻ tre và sách bằng lụa đến thế kỷ I trước công nguyên được sử dụng song song, điều này phản ánh qua Hán thư Nghệ văn chí. Cũng qua Hán thư Nghệ văn chí, ta thấy đơn vị văn bản thời bấy giờ khi thì tính bằng “thiên”, như “Dịch kinh thập nhị thiên”; khi thì tính bằng “quyển”, như “Thượng thư cổ văn kinh tứ thập lục quyển”; cũng có lúc vừa tính bằng “thiên” vừa tính bằng “quyển”, như “Xuân thu cổ kinh thập nhị thiên, kinh thập nhất quyển”.
Giản sách vừa thô vừa nặng. Bạch thư giá thành lại cao. Điều này thôi thúc người ta tìm kiếm vật liệu thích hợp hơn để viết chữ. Kết quả vào thế kỷ II, sau khi Thái Luân cải tiến thành công phương pháp sản xuất giấy đã nhanh lại rẻ, giấy liền được sử dụng làm sách. Sang thế kỷ III thẻ tre và gỗ hoàn toàn bị giấy đẩy lùi. Kỹ thuật đóng sách hồi bấy giờ là dán các tờ giấy vào nhau theo chiều ngang, thành một băng dài, rồi dùng trục gỗ cuốn lại theo hướng từ trái sang phải thành một đơn vị văn bản gọi là “quyển” như đối với bạch thư, tương đương một “thiên” ở giản sách. Do mỗi quyển đều có trục gỗ ở giữa, nên còn được gọi là “quyển trục” 卷 軸 hay “trục thư” 軸 書 Trục thư dài ngắn không đồng đều, tùy thuộc vào nội dung văn bản nhiều hay ít. Với những trục thư dài, muốn đọc một câu hoặc một đoạn nào đó, phải mở ra cuốn lại sách nhiều lần, vô cùng bất tiện. Vì lẽ ấy vào khoảng thế kỷ VII, VIII người ta quay sang học kiểu đóng sách của ấn Độ qua các tập kinh Phật được viết bằng chữ Phạn. Cụ thể là đem trục thư gấp lại thành nhiều mảng hình chữ nhật liền nhau, có bề rộng khoảng 11, 12cm. Mặt giấy đầu tiên và mặt giấy cuối cùng của trục thư thường bồi thêm một số tờ giấy cho dày, dùng làm bìa sách. Kiểu đóng này được đời sau gọi là “chiết trang” 折 裝 , “kinh chiết trang” 經 折 裝 , hay “Phạn giáp trang” 梵 夾 奘 .
Sách “chiết trang” dùng lâu ngày, các nếp gấp thường bị rách, sách đứt ra thành nhiều mảnh, mảnh trước dễ lẫn lộn với mảnh sau. Đến đầu thế kỷ X, nhân phát minh ra nghề in, các bản khắc ván có thể làm từng tấm một, người ta bèn nghĩ ra cách đóng sách gồm những tờ rời gọi là “sách diệp” 冊 葉, vừa khắc phục được mặt hạn chế của sách “chiết trang”, vừa tận dụng được khả năng in ấn đương thời. Kỹ thuật đóng sách từ “trục thư” chuyển sang “sách diệp”.
Sách diệp sau đó lại tiếp tục cải tiến qua nhiều thế kỷ, từ kiểu đóng “cánh bướm” (hồ điệp trang) đến kiểu đóng “bọc gáy” (bao bối trang), và cuối cùng, đến kiểu đóng bằng chỉ (tuyến trang) như hiện nay.
Từ “quy sách”, “giản sách” đến “bạch thư”, “trục thư” và cuối cùng là “chiết trang”, “sách diệp”... kỹ thuật đóng sách đã có những bước tiến rất dài!
Về tên gọi các bộ phận của sách cổ, ở đây xin giới thiệu những cách gọi thường gặp nhất:
1. Thư phẩm 書 @ (chất lượng sách): có nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Nghĩa rộng, gồm chất lượng của bản in lần đầu và các lần tái bản nếu có; các bản sao chép cũ và mới; khoảng cách giữa các dòng lớn hay nhỏ; có hay không có tựa, bạt, bìa sách, nhãn sách, dấu thư viện; các lời phê ghi trên sách là của nguyên tác hay của người đời sau; kỹ thuật đóng sách khéo hay vụng v.v.
Nghĩa hẹp, chỉ phần giấy phía ngoài khung trang sách và mức độ cũ nát của sách.
2. Biên lan 邊 欄 (khung viền trang sách): đường viền bên trên là “thượng lan” 上 欄 ; đường viền bên dưới là “hạ lan” 下 欄 ; đường viền bên trái là “tả lan” 左 欄 đường viền bên phải là “hữu lan” 右 欄 . Nếu đường viền chỉ có một vạch thì gọi là “đơn lan” 單 欄 hay “đơn biên” 單 邊 còn nếu là hai vạch thì gọi là “song lan” 雙 欄 hay “song biên” 雙 邊 .
Nếu bên trên và bên dưới đều là đơn biên , bên phải bên trái đều là song biên, thì gọi là “tả hữu song lan” 左 右雙 欄 hay “tả hữu song biên” 左 右雙 邊 . Nếu trên, dưới, phải, trái đều là song biên, thì gọi là “bốn phía đều song biên”. Trường hợp khung viền bốn chung quanh gồm một đường to và một đường nhỏ, thì gọi là “văn vũ biên lan” 文 武 邊 欄 .
3. Thư nhĩ 書 耳 (tai sách): chỉ ô hình chữ nhật ở góc trái của biên lan, dùng để ghi tên các thiên sách.
4. Bản tâm 版 心 (lòng sách): còn gọi là “bản khẩu” 版 口 hay “thư khẩu” 書 口 , chỉ khoảng giấy nằm giữa mặt a và mặt b của một tờ sách. Nếu ở phần giấy này có in vạch đen thì gọi là “hắc khẩu” 黑 口 , không in vạch đen thì gọi là “bạch khẩu” 白 口 . Vạch đen in dài và to thì gọi là “đại hắc khẩu” 1. Vạch đen in dài và to thì gọi là “đại hắc khẩu” 大 黑 口 , in ngắn và nhỏ thì gọi là “tiểu hắc khẩu” 小 黑 口. Phần vạch đen ở phía trên của bản tâm gọi là “thượng hắc khẩu” 上 黑 口 , phần vạch đen ở phía dưới gọi là “hạ hắc khẩu” 下 黑 口 . Bản tâm cả phía trên lẫn phía dưới đều có vạch đen, gọi là “thượng hạ hắc khẩu” 上 下 黑 口 . Nếu phía bản tâm có in chữ, thì gọi là “hoa khẩu” 花 口 .
5. Ngữ vĩ 魚 尾 (đuôi cá): chỉ ký hiệu có hình như đuôi con cá (......) ở bản tâm. Ký hiệu này thường xuất hiện ở nửa trên hoặc nửa dưới của bản tâm, dùng để đánh dấu chỗ gấp tờ sách thành hai mặt a và b. Nếu ở bản tâm chỉ có một ngư vĩ, thì gọi là “đơn ngư vĩ” 單 魚 尾 . Còn nếu cả phần trên lẫn phần dưới của bản tâm đều có ngư vĩ, thì gọi là “song ngư vĩ” 雙 魚 尾 .
6. Thiên đầu 天 頭 (đầu sách): còn gọi là “my đầu” 眉 頭 (mi sách), chỉ phần giấy trắng trên, ngoài biên lan.
7. Địa cước 地 腳 (chân sách): còn gọi là “hạ cước” 下 腳 (chân dưới), chỉ phần giấy trắng dưới, ngoài biên lan.
8. Thư não 書 腦 (não sách): chỉ phần giấy ở bên ngoài biên lan trái và phải, nơi dùng để dùi lỗ xâu chỉ khi đóng sách.
9. Thư bối 書 背 (lưng sách): còn gọi là “thư tích” 書 脊 , chỉ mặt lưng của một cuốn sách, ta thường gọi là “gáy sách”.
10. Phó diệp 副 葉 (tờ lót): chỉ những tờ giấy trắng dùng để lót ở phía sau bìa trước và bìa sau (thường trước 3 sau 2) với mục đích bảo vệ các tờ sách bên trong, nên còn gọi là “hộ diệp” 護 葉. Ngoài ra còn có thể dành những tờ giấy này để viết tựa (nếu là ở phía trước) hoặc bạt (nếu là ở phía sau) cho cuốn sách.
11. Phong diện 封 面 (bìa trong): ở các cuốn sách cổ, sau phó diệp, có tờ “phong diện” để ghi tên sách, tên tác giả, nơi in sách, tương đương với tờ “bìa trong” của sách hiện nay. Tác dụng của phong diện lúc đầu là nhằm góp phần bảo vệ các tờ sách bên trong, nhưng dần về sau đã mất đi mục đích này.
12. Thư bì 書 皮 (bìa sách): còn gọi là “thư y” 書 衣 (áo sách) “thư diện” 書 面 (mặt sách), chỉ lớp ngoài cùng, thường làm bằng bìa dày để bảo vệ sách.
13. Thư thiêm 書 簽 (nhãn sách): trên bìa sách, người ta thường dán thêm một tờ giấy hoặc một mảnh lụa để ghi tên sách cùng số quyển, gọi là “thư thiêm”, nhãn sách.
14. Trật 秩 (áo sách): đây là lớp bọc ngoài, thường làm bằng vải hay bằng lụa để bảo vệ các quyển trục. Một bộ sách cổ có thể gồm nhiều quyển trục, “trật” do đó còn có tác dụng làm cho các quyển sách khỏi bị lẫn lộn với nhau.
15. Hàm 函 (hộp sách): còn gọi là “hàm sáo” 函 套 , “thư sáo” 書 套 , “chỉ hạp” 紙 匣 , “mộc hạp” 木 匣 ... đều chỉ các loại hàm, hộp, tráp, túi... dùng để đựng sách.
Dưới đây là sơ đồ một tờ sách cổ, cùng tên gọi các bộ phận của nó (*).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tiêu Chấn Đường và Đinh Du Đồng: Trung Quốc cổ tịch trang đính tu bổ kỹ thuật, Thư mục văn hiến xuất bản, Bắc Kinh 1980.
2. La Mạnh Trinh: Trung Quốc cổ đại mục lục học giản biên, Trùng Khánh xuất bản xã, Trùng Khánh 1983.







NHỮNG BÀI CA DAO XỨ HUẾ DƯỢC MỞ DẦU BẰNG HAI CÂU THEO HÌNH THỨC HÁN VĂN





NHỮNG BÀI CA DAO XỨ HUẾ ĐƯỢC
MỞ ĐẦU BẰNG HAI CÂU THEO
HÌNH THỨC HÁN VĂN
I
Tìm hiểu ảnh hưởng của văn chương bác học đối với ca dao xứ Huế, thời kỳ còn là thủ phủ Đàng trong và Kinh đô của nước ta, hoặc có thể nói một cách rộng hơn, là tìm hiểu sự giao lưu văn hóa, văn học Hán - Việt, chúng tôi thấy có một hiện tượng văn học đáng lưu ý là không ít bài ca dao xứ Huế được mở đầu bằng hai câu có hình thức Hán văn. Cụ thể là có 41 bài ca dao được cấu trúc bốn câu, trong đó có từ một đến hai câu theo hình thức Hán văn (HTHV) (theo tài liệu người viết có được - xem phần chú thích). Trong sô 41 bài này, thì 25 bài có hai câu theo HTHV ở vị trí thứ nhất, thứ hai; 12 bài có một câu theo HTHV ở vị trí thứ nhất; và 4 bài có một câu theo HTHV ở vị trí thứ hai hoặc thứ ba. Hai dạng sau chưa tìm thấy sự trùng lặp câu thơ theo HTHV. Riêng dạng đầu, số 25 bài ấy, chỉ sử dụng 9 cặp câu theo HTHV; nghĩa là, nếu chọn ra 9 bài để xem xét, thì 16 bài còn lại có thể tạm cho là những dị bản tương ứng.
Bài viết ngắn này chỉ đề cập đến HTHV đậm đặc nhât, tức 25 bài ca dao có hai câu theo HTHV ở vị trí mở đầu nêu trên, chủ yếu qua 9 bài được chọn, xin dẫn ra dưới đây (chữ số trong ngoặc đơn ghi cuối mỗi bài, vừa dùng để chỉ bài ấy khi phẩm bình, vừa dùng để ghi xuất xứ ở phần chú thích):
Thiên sanh nhân, hà nhân vô lộc?
Địa sanh thảo, hà thảo vô căn?

Một mình em ngồi dựa lòng thuyền, dưới nước trên trăng,
Biết cùng ai trao duyên gởi phận cho bằng thế gian(1).
Hoạ hổ họa bì nan họa cốt,
Tri nhân tri diện bất chi tâm;

May mô may chút nữa em lầm,
Khoai khô xắc lát, tưởng Cao Ly sâm bên Tàu(2).
Minh quân lương tướng tao phùng dị,
Tài thư giai nhân tế ngộ nan;

May mô may thiếp lại gặp chàng,
Trăm năm xin tạc đá vàng thủy chung(3).
Hạ bút đề thị: quân tử trúc,
Loan thiên tế địa trượng phụ tùng.

Theo nhau chọn thủy chọn chung,
Kẻo gái thuyền quyên chờ trai anh hùng bấy lâu(4).
Thiếp tựa thiên biên nguyệt,
Quân như lãnh thượng vân;

Tuy gần mà chẳng phải gần,
Cũng như biển Sở non Tần cách xa(5).
Ngộ bần cùng dã bạc,
Ngộ bần tiện tri thông;

Em dạo chơi cho biết đục trong,
Dẫu có lâm cơ thất vận cũng đành lòng em nay(6).
Tiền tài như phấn thổ,
Nghĩa trọng tựa thiên kim;

Thương nhau nên phải đi tìm,
Tìm nhau từ buổi nổi chìm cháo rau(7).
Phú dữ quý thị nhân chi sở dục,
Bần dữ tiện thị nhân chi sở ố;

Khổ thân phận chàng tứ cố vô thân!
Chẳng trách thầy mẹ bên em tham chữ phú, phụ chữ bần,
Còn em đây thì Nam mô A di đà Phật, hai chữ phù vân nhờ trời(8).
Bần cư trung thị vô nhân vấn,
Phú tại sơn lâm hữu khách tầm;

Ai tầm thì tầm, em nỏ thèm tầm,
Vì chưng em dâng nghèo ở chợ, kết nghĩa sắt cầm không xứng đôi(9).
II
Hai câu theo HTHV của bài 1 có nghĩa: Trời sinh ra người mà người không có lộc? Đất sinh ra cỏ, cỏ nào mà chẳng có rễ? Quy luật ấy của tạo hóa rành rành ra đó. Vậy mà em lại đang cô quạnh, chơi vơi giữa dòng nước, đất trời cùng mảnh thuyền không, “Biết cùng ai trao duyên gởi phận” đây? (lộc được hiểu như “nguồn sống từ đất trời, con người mà một cá nhân thụ hưởng”. Với người thiếu nữ trong bài ca dao, nguồn sống ấy là hạnh phúc lứa đôi).
Bài ca dao đã rất phổ biến ở Huế. Có 6 dị bản với sự thay đổi ít nhiều lời ca ở hai câu cuối (hai câu đầu theo HTHV luôn cố định), chẳng hạn: “... Một mình em ngồi tựa mạn thuyền, dưới nước trên trăng, Biết nơi mô hơn mà thủ phận, nơi mô bằng mà trao duyên”(10); và “... Anh thương ai thì nói lại cho ắt bằng, Kẻo một mai trâu cột ghét trâu ăn không đành”(11).
Hai câu theo HTHV của bài 2 có nghĩa: Vẽ cọp thì vẽ được da cọp, khó vẽ được cốt cách con cọp; (cũng như) biết người thì biết mặt, không thể biết được lòng người. Một cách nói gần ý của câu ca dao Việt Nam “Sông sâu còn có kẻ dò, mấy ai lấy thước mà đo lòng người”. Nguyễn Trãi cũng nói tương tự “Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài” (Ngôn chí, bài 5); Nguyễn Du cũng không nói khác: “Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao?” (Truyện Kiều, cầu 2120). Điều này được nhân vật của bài ca dao “ngộ” ra như reo lên: may mắn làm sao em đã thoát khỏi sự lầm lẫn về anh, một con người xoàng xĩnh (như khoai khô) mà trông bề ngoài cứ ngỡ là cao quý lắm (như sâm Cao Li)!
Bài này có 5 dị bản, chẳng hạn; “... Xa xôi chi đó mà lầm; ở gần bên cây đó, há không biết hơi trầm thể nao?”(12), và “... Xưa kia chẳng biết nên anh lầm; Bây giờ đã rõ, vàng cầm anh cũng không:(13)...
Hai câu theo HTHV của bài 3 có nghĩa: Vua sáng, tướng tài tình cờ gặp gỡ nhau thì dễ; còn như tài tử, giai nhân đột nhiên mà gặp được nhau thì khó. Lời thơ tiếp theo thể hiện nỗi vui mừng của giai nhân (thiếp), tài tử (chàng), khi ngẫu nhiên gặp gỡ và kết duyên “đá vàng”, để tránh bỏ mất cơ hội hiếm hoi.
Hai câu theo HTHV của bài 4 có nghĩa: Hạ bút đề thơ ca ngợi trúc quân tử thẳng ngay, và trượng phu tùng rắn rỏi, hiên ngang bốn mùa xanh tươi che kín trời đất. Theo văn cảnh, lời ca ngợi này hàm ý: chàng đã rất thủy chung (với thiếp). Thật thỏa lòng tin yêu, đợi chờ bấy lâu của thiếp!
Hai câu theo HTHV của bài 5 có nghĩa: Thiếp như trăng bên chân trời; Chàng như mây trên đỉnh núi. “Trăng bên chân trời” và “mây trên đỉnh núi” tuy gần (trong tầm mắt), nhưng thật ra là cách biệt: “như biển Sở non Tần”. Phép so sánh giữa hai câu theo HTHV, so sánh ở câu lục, ở câu bát và kết hợp cặp lục bát) nhằm làm nổi bật được ý xa xôi “góc biển chân trời” ấy.
Hai câu theo HTHV của bài 6 có nghĩa: Gặp phải cảnh bần cùng thì vui (vui bần cùng); gặp phải cảnh nghèo khó, thì cũng biết lẽ cùng thông (cùng tắc biến, biến tắc thông) để bằng lòng với số phận. Phần tiếp theo của bài ca dao thể hiện phong thái ung dung “tuỳ ngộ nhi an”, sẵn sàng chấp nhận cả điều xấu nhất là “lâm cơ thất vận” (sa vào cảnh đói khó, cùng đường) cũng an với phận của mình của cô gái sắp vào cuộc hôn nhân.
Hai câu theo HTHV của bài 7 có nghĩa: Tiền bạc, của cải [em] coi rẻ như cát bụi; chỉ có tình nghĩa mới đáng quý tựa ngàn vàng. Ngàn vàng (thiên kim) trong Hán văn cổ được dùng theo nghĩa bóng là vô giá, giá trị to lớn vô cùng (thơ Lý Bạch có câu: “Mỹ nhân nhất tiếu thiên hoàng kim = Tiếng cười của người đẹp đáng giá ngàn vàng”; Thơ Tô Thức lại nói: “Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim = Một khắc đêm xuân đáng giá ngàn vàng”; Hạt Quán Tử ghi “Trung lưu thất thuyền, nhất hồ thiên kim = Thuyền đắm giữa dòng một quả bầu đáng giá ngàn vàng”...). Bài ca dao cũng dùng ngàn vàng theo nghĩa này. Đây là quan niệm đạo đức trọng nghĩa khinh tài vốn rất được đề cao trong nhân dân ta. Lời tiếp theo của bài ca dao thể hiện quan niệm ấy theo nghĩa hẹp của “nghĩa” (là tình yêu nam nữ: đã thương nhau thì dù cách xa bao nhiêu, dù phải trải qua đói khổ, bần cùng đến mức “nổi chìm cháo rau” cũng phải tìm gặp nhau, chung thủy với nhau.
Như bài 2, bài này cũng có 5 dị bản, chẳng hạn: “... Xa xôi anh cũng đi tìm, Bây giờ kháp mặt như Kim gặp Kiều(14), và “... Con le le mấy thuở chết chìm, Người thương ở bạc kiếm tìm làm chi”(15)...
Hai câu theo của bài 8 có nghĩa: Giàu sang là điều ai cũng muốn; nghèo khổ là điều ai cũng ghét. Nghèo khổ không chỉ bị ghét mà còn xếp vào hạng “lục cực” (sáu điều khốn: chết non, ốm đau, lo phiền, nghèo đói, tật xấu xa, hèn yếu), thậm chí, đứng đầu vạn tội (vạn tội bất như bần). Nguyễn Công Trứ đã xác nhận điều này: “Lục cực bày hàng sáu, rành rành kinh huấn chẳng sai; vạn tội lấy làm đầu, ấy ấy ngạn ngôn chẳng có” (Hàn nho phong vị phú). Cô gái trong bài ca dao đã dùng cái lẽ thường tình này để biện minh cho thày mẹ “tham chữ phú, phụ chữ bần” ruồng rẫy người tình nghèo khó của cô. Còn cô, cô ngả sang triết lý nhà Phật, xem giầu sang như mây nổi, thoắt có thoắt không, nên chấp nhận duyên số của mình mà cô cho là trời Phật đã an bài.
Hai câu theo HTHV của bài 9 có nghĩa: Nghèo khổ thì dù ở ngay giữa chợ cũng chẳng ai hỏi han; còn giàu sang thì có ở tận núi sâu, rừng thẳm, cũng có khách đến tìm. Tục ngữ, ca dao xứ Huế có nhiều bài gần gũi với ý trên, thể hiện thói đời đen bạc “trọng của khinh tình”: “Phú quý đa nhân hội, bần cùng bà nội cũng xa”; “Khó nghèo nằm giữa chợ chẳng ai han, khi làm quốc trạng ba ngàn bà con”; “Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng thân thích li, giàu người dưng thì trọng, khó o với dì cũng xa”... Lời tiếp theo của bài ca dao đã như một bản tuyên ngôn tình yêu, một thông điệp của cô gái cho mọi người biết lập trường vững vàng của cô, lòng chung thủy của cô, vượt lên trên thói đời đen bạc; Ai tìm người sang giàu thì mặc, em không màng, vì “em đang nghèo ở chợ”, tự xét chẳng xứng đôi.
III
Hầu hết lời theo HTHV thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan truyền thống. Đó là tinh thần lạc quan, tin tưởng ở trời Phật và lẽ biến dịch (bài 1; 6), đề cao sự thủy chung, tình nghĩa (bài 4; 7), coi trọng người bạn tình tri kỷ (bài 3) và biết được thói tình của thế gian (bài 8; 9). Các lời theo HTHV này vốn từ cổ ngữ, kinh điển, những câu thơ cổ đã khá phổ cập, dân gian chỉ dùng lại nguyên mẫu hoặc có chế tác đôi chút cho dễ hò, hát và bắt vần (chẳng hạn, lời HTHV ở bài 4 đúng ra là: “... quân tử trúc, trượng phu tùng, loan thiên tế địa”). Sự ảnh hưởng của HTHV giảm dần rồi mất hẳn, trong ca dao sau Cách mạng tháng 8 (Ca dao giai đoạn 1945 - 1975) rất hiếm gặp hiện tượng xuất hiện cùng lúc một câu HTHV).
Điều đáng lưu ý khác là các nhân vật trữ tình (hoặc chủ thể sáng tạo) của những bài ca dao trên, phần lớn là nữ và nội dung giải bày là cảm xúc lứa đôi. Phải chăng do tác giả của những bài ca dao ấy, có thể phần lớn là những nho sĩ bình dân, có vốn Hán học nhất định, sống gần gũi quần chúng nhân dân, có nhân sinh quan tiến bộ, có thái độ thông cảm và trân trọng đối với phụ nữ, bày tỏ khát vọng đòi tự do lứa đôi và quyền bình đẳng của phụ nữ, mà HTHV là một phương tiện giúp đỡ bày tỏ đắc lực.
Hai câu theo HTHV được sắp xếp theo dạng đối, không gieo vần và đặt trước cặp lục bát (hoặc lục bát biến thể) lời Việt. Âm tiết cuối của câu đầu mang thanh trắc, âm tiết của câu sau mang thanh bằng để hiệp vần với âm tiết nuối của câu lục (riêng bài 8, do không tìm được thanh bằng ở câu theo HTHV thứ hai nên phải thêm vào một câu lời Việt để bắt vần với câu lục). Kiểu cấu tạo âm thanh này gần gũi với thể song thất lục bát. Khi diễn xướng, hai câu theo HTHV thường chỉ nói, đến cập lục bát (hát). Sự tách biệt này chỉ thuần tuý về mặt âm thanh, còn ý nghĩa thì hai câu theo HTHV ăn khớp với lời Việt. Nói chính xác hơn, hai câu theo HTHV thể hiện tư tưởng chủ đề của cả bài và mang nghĩa khái quát, hiển nhiên, được thuân thủ như một quy luật. Lời tiếp theo là một tình huống, một biểu hiện cụ thể của quy luật ấy.
Sự kết hợp giữa hai câu HTHV dạng đối với một cặp lục bát lời Việt, ngoài những điều đã trình bày ra, còn tạo nên một vẻ đẹp cổ điển về mặt cấu trúc của bài ca dao. Vẻ đẹp này có được sự cân xứng của lời HTHV và lời Việt (tỉ số 2-2), sự tương phản về ngôn ngữ (Hán - Việt), về thể loại (đối - lục bát) của chúng. Mặt khác, là do ý nghĩa biểu đạt đi từ cái khái quát, cái quy luật đến cụ thể, tâm trạng riêng tư (tương tự thơ Đường luật, nếu chia số câu của bài thơ làm hai phần bằng nhau, thì nửa đầu thường thiên về cảnh, về sự, nửa sau ngả về tình ý riêng của nhà thơ) phù hợp với tư duy diễn dịch và quan điểm thẩm mĩ truyền thống.
Việc có mặt đáng kể của những bài ca dao đang bàn trong kho tàng ca dao xứ Huế, hẳn có sự thu hút từ vẻ đạp của một kiểu cấu trúc văn bản mang tính thể loại ấy. Điều này thể hiện rõ nét chất bác học của ca dao xứ Huế trong giai đoạn hội tụ và giao thoa với văn hóa cung đình nói riêng, và là sự thể hiện sinh động của sự giao lưu văn hóa, văn học Hán - Việt nói chung.
Người biên tập: Mai Xuân Hải
CHÚ THÍCH
(1) Vũ Ngọc Phan - Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam (bản in lần 8) - Hò Huế, Nxb. KHXH, H. 1978, tr.655.
(2) và (15) Ưng Luận - Ca dao xứ Huế bình giảng, sở VHTT Thừa thiên - Huế, tập 3, 1993, tr.27 và tập 2, 1992, tr.40.
(3), (9), (11) và (12) Triều Nguyễn - Văn học dân gian Hương Phú, Sở VHTT Bình Trị Thiên, 1988, các tr.173, 174, 232 và 276.
(4), (5), (6), (7) và (13) Trần Việt Ngữ, Thành Duy - Dân ca Bình Trị Thiên, Nxb. Văn học, H.1967, các tr.64,67,68,101,102.
(8) và (14) Trần Hoàng (Chủ biên) - Ca dao dân ca Bình Trị Thiên, Nxb. Thuận Hóa, 1988, các tr. 212 và 237.
(10) Phan Ngọc Thu (Chủ tiên) - Thơ ca dân gian Bến Hải, Sở VHTT Bình Trị Thiên, 1985, tr.57.

TB







CÂU DỐI DỀN HÙNG VÀ TÂM THỨC VIỆT NAM





CÂU ĐỐI ĐỀN HÙNG VÀ TÂM THỨC VIỆT NAM
Câu đối Đền Hùng là cảm nghĩ của nhân dân gửi Đền Hùng mộ Tổ, tấm lòng nhân dân khi được về mảnh đất cội nguồn, được thành kính thắp những nén hương thơm dâng lên tổ tiên xưa: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”.
Xét về văn tự, câu đối Đền Hùng có 3 loại, đó là các câu đối soạn bằng Hán tự, câu đối Nôm và câu đối chữ Quốc ngữ ra đời muộn hơn, vào hồi đầu thế kỷ.
Đề ở Đền Hùng phần nhiều là câu đôi Hán tự, còn đối Nôm và đối chữ Quốc ngữ là viết trên giấy lưu lại hay in trên báo chí hoặc cũng có khi là truyền khẩu mà nhớ.
Đến cổng đền Hùng, ngước nhìn lên thấy trang nghiêm như tỏa sáng hào quang 4 chữ “Cao sơn cảnh hành”. Đây là câu rút ra từ Kinh Thi: Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ, có nghĩa là: “Núi cao ta ngẩng trông, đường rộng lớn ta đi tới”. “Núi cao ta ngẩng trông” là hướng về cội nguồn như núi cao sừng sững bền vững muôn đời. Còn “đường lớn ta đi tới” là chỉ về tương lai rộng lớn của cả dân tộc. Khổng Tử khi biên tập các câu hát và thơ dân gian để làm thành bộ Kinh Thi có khen câu thơ trên: “Người làm thơ yêu thích cái đạo nhân hậu đến như thế”. Khen “nhân” là vì đã nghĩ đến cái gốc, khen “hậu” vì đã nghĩ đến những thế hệ mai sau.
Hai bên cổng đền là đôi câu đối:
Thác thủy khải cơ, tứ cố sơn hà qui bản tịch.

Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn.
(Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông qui một mối;

Lên cao nhìn khắp, chập chùng đồi núi cháu con đông).
Đôi câu đối vừa chỉnh vừa mang ý nghĩa sâu sắc, đề ở cổng nơi thờ Tổ chung cả nước thật thích hợp mà lại chiếu được vào 4 chữ đại tự nói trên.
Đền Hùng còn có nhiều hoành phi đều nói lên Hùng Vương là tổ nước, nêu cao công đức tổ tiên và tấm lòng uống nước nhớ nguồn như:
- Triệu cơ vương tích (Dấu tích vua trên nền móng đầu tiên).
- Nam Việt triệu tổ (Vị Tổ đầu tiên của nước Việt Nam).
- Hùng Vương linh tích (Dấu thiêng của các vua Hùng).
- Ẩm hà tư nguyên (Uống nước nhớ nguồn)
- Tử tôn bảo chi (Con cháu hãy giữ gìn lấy).
- Nam quốc sơn hà (Non sông nước Nam)
- Sơn thủy kim ngọc (Non sông vàng ngọc).
Các hoành phi trên nói lên tư tưởng và tấm lòng của nhân dân, câu đối Đền Hùng cũng mang những nội dung trên nhưng có đi sâu có phát triển, vì hoành phi là súc tích, chỉ nêu trong 4 chữ cả một vấn đề lớn có tính khái quát cao.
Về với Đền Hùng mộ Tổ trên ngọn núi Hùng hay Nghĩa Lĩnh, tại xã Hy Cương, huyện Phong Châu, Vĩnh Phú, mỗi khách hàng hành hương không thể không bồi hồi xúc động trước cảnh núi sông hùng vĩ và tươi đẹp. Trước mắt là thành phố Việt Trì, Kinh đô nước Văn Lang, Thủ đô của nước Việt Nam ta với ba con sông lớn nhất miền Bắc là Lô, Thao (tức sông Hồng) và Đà như 3 con rồng uốn khúc quện lấy nhau chầu về núi Hùng. Khu vực Nghĩa Lĩnh này là hậu cung và cũng là nơi lập đàn tế Trời Đất và thực hành những nghi lễ cầu mưa của các vua Hùng.
Câu đối nói lên tâm tưởng mỗi người trước cảnh tượng hùng tráng “non sông muôn thuở vững âu vàng”:
- Vương đối tác bang, tối hảo trung gian sơn thủy;

Dân kim thụ tứ, cái tự thượng cổ thánh thần.
(Vua dựng nước đây, sông núi chốn này tươi đẹp quá;

Dân nay ơn chịu, thánh thần trao lại tự ngàn xưa).
- Khải mã Nam giao, Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc;

Hiền vu Tây thổ, Tản Lô nhất đái thọ tân từ
(Cõi mở Nam Giao, Hồng Lạc nghìn thu tôn nước tổ.

Đất tây rộng mở, Tản Lô một dải vững đền Vua).
- Quá cố quốc, miến Lô, Thao, y nhiên bích lãng hồng đào, khâm đái song lưu hồi Bạch Hạc.

Đăng tư đình, bái lăng tẩm, do thị thần kinh xích huyện, sơn hà tự cổ khống Chu Diên.
(Qua nước cũ ngắm Lô Thao, vẫn hồng đào bích lãng như xưa, sông hai dải bao quanh chầu Bạch Hạc;

Lên đền này vái lăng tẩm, kìa xích huyện thần kinh còn đó, núi bốn bề quay lại giữ Chu Diên).
Các câu đối bắt nguồn từ cảm hứng núi sông đều mang ý Tổ quốc trường tồn, giang sơn vững mạnh, từ đó lại đưa tới nội dung ca tụng, khẳng định công đức các vua Hùng dựng nước.
- Lịch Tam hoàng chí Tam vương, thần truyền thánh kế.

Đĩnh bách nam khai Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.
(Trải qua ba đời đến ba đời vương, thánh thần truyền dõi.

Sinh trăm trai nở trăm giống Việt, tổ tiên xây đắp, con cháu vui bồi).
- Thánh thần sự nghiệp Thiên Nam thủy;

Hoàng đế cơ đồ Cổ Tích sơn.
(Sự nghiệp bậc thánh thần khởi đầu ở cõi trời Nam;

Cơ đồ đấng hoàng đế gây dựng từ núi Cổ Tích).
- Hồng Lạc cố cung tồn, diệp chướng tầng loan quần thủy hợp.

Đế vương linh khí tại, hào phong nộ vũ nhất phong cao.
(Cung cũ Hồng Lạc còn đây, trùng điệp núi đồng nhiều sông họp lại;

Khí thiêng đế vương vẫn đó, thét gào mưa gió một ngọn núi đứng cao).
- Duật duật hoàng hoàng phối thiên kỳ trạch đế nhi tổ;

Thông thông uất uất, đắc địa chi linh sơn diệc hùng.
(Đẹp đẹp tươi tươi, sánh ơn lớn của trời, vua còn là tổ;

Xanh xanh tốt tốt, được khí thiêng của đất, núi cũng rất hùng).
- Duy tổ quốc tinh thần, nhất thập bát truyền căn bản địa;

Khảo cổ dư đồ danh thắng, kỷ thiên cổ tải đế vương lăng.
(Vì tinh thần Tổ quốc, qua mười tám đời truyền, đất này là căn bản;

Khảo danh thắng nước nhà sau mấy nghìn năm lẻ, nơi đây còn lăng vua).
Các câu đối đã nói lên sự trường tồn thế nước, truyền mãi và vững mạnh muôn đời:
- Thập bát thế truyền trường quốc tộ;

Ức niên hương hỏa điện kim âu
(Mười tám đời truyền dài thế nước;

Ngàn năm hương hỏa vững âu vàng).
- Kiến quốc lịch thiên niên, phụ đạo tương thừa công đức hậu;<

Hùng đồ thập bát thế, sơn hà tăng mị thái bình dân.
(Dựng nước trải ngàn năm, trị nước hưởng thừa công đức hậu;

Dòng Hùng mười tám đời, non sông thêm tươi đẹp, dân hưởng thái bình).
Tư tưởng non sông “riêng một cõi trời”, đứng vững một cõi trời Nam, tư tưởng “Nam quốc sơn hà” và “các đế nhất phương” là một tư tưởng hạt nhân của tinh thần dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta, giúp cho nhân dân ta giữ vững chủ quyền dân tộc, bảo vệ giang sơn bờ cõi chống lại bất kỳ mưu đồ thôn tính nào. Tư tưởng “Nam quốc sơn hà” và “Các đế nhất phương” cũng là nội dung của nhiều câu đối Đền Hùng:
- Thử địa thử sơn Nam quốc kỷ;

Ngô vương ngô thổ Bắc thần tôn.
(Đất này núi này là của nước Nam;

Vua ta đất ta làm phương Bắc cũng nể vì).
- Thiên thư định phận, chính thống triệu minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ;

Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành túy miếu, tam giang khâm đái thượng triều tôn.
(Sách trời đã định, chính thống dựng kinh đô, Bách Việt non sông theo tổ trước;

Núi sáng khí thiêng, cố cung thành đền miếu, ba sông quanh quất hướng chầu vua).
- Tây hanh vu sơn, Tản Đảo Lô Thao, hội tác nhất thiên vũ trụ;

Nam tố kỳ địa, Đinh, Lý, Trần, Lê trường lưu ức triệu dư đồ.
(Phía tây thông núi ấy, Tản Đảo, Lô, Thao hợp thành bầu vũ trụ;

Phương Nam mở đất này, Đinh, Lý, Trần, Lê ngàn thuở vững dư đồ).
Tư tưởng “uống nước nhớ nguồn”, về với cội nguồn là tư tưởng quán xuyến trong các câu đối, dù nói về công đức Vua Hùng dựng nước hay nói lên tư tưởng “các đế nhất phương”. Tư tưởng “uống nước nhớ nguồn” cũng là một truyền thống trở thành sức mạnh, một nội lực của tâm thức Việt Nam:
- Thái hòa tại vũ sổ thiên tải;

Công liệt ư dân thập bát truyền.
(Mấy nghìn năm trước xây nền vững;

Mười tám đời truyền dân đội ơn sâu).
- Thông thông uất, trung hữu lăng yên tẩm yên, long phụ tiên mẫu chi tính linh, hựu ngã hậu nhân võng khuyết;

Cổ cổ kim kim, thử sơn dã thủy dã, thánh tổ thần tông chi sáng tạo, y hi tiền vương.
(Trong cây cỏ tốt xanh vẫn có miếu lăng, hồn thiêng cha mẹ rồng tiên phù hộ đời sau không thiếu sót;

Suốt cổ kim dài dặc, thấy kìa sông kìa núi, công đức tổ tiên thần thánh, nhớ ơn vua trước chẳng hề quên).
- Thần thánh khải viêm bang chí kim, địa bất cải tịch, dân bất cải tụ.

Huân lao phụng thánh miếu thị vi, mộc chi hữu bản, thủy chi hữu nguyên.
(Thần thánh mở cơ đồ đến nay, đất vẫn thế, dân vẫn thế;

Công huân thờ thánh miếu từ, cây có gốc nước có nguồn).
Cảm xuc câu đối Đền Hùng là cảm xúc trang nghiêm hướng về những điều thiêng liêng với mỗi người dân Việt; ý thức về cội nguồn, về sự trường tồn vững mạnh của đất nước và tư tưởng uống nước nhớ nguồn. Phải chăng câu đối Đền Hùng là biểu hiện của tâm thức Việt Nam ánh lên trên từng nét chữ ?
Người biên tập: Trịnh Khắc Mạnh
CHÚ THÍCH
(*) Bài viết nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương năm Bính Tí (1996).

TB







HAI TỜ CHIẾU CỦA VUA CẢNH THỊNH GỬI NHỮNG NGƯỜI TRONG SỨ BỘ ANH





HAI TỜ CHIẾU CỦA VUA CẢNH THỊNH GỬI NHỮNG NGƯỜI TRONG SỨ BỘ ANH
Năm 1793, một đoàn sứ giả Anh trên đường tới Trung Quốc gặp bão, phải ghé thuyền vào cửa biển Đà Nẵng của ta để mua thêm lương thực, thực phẩm. Sau khi nghe chính quyền địa phương báo cáo tình hình này lên, vua Cảnh Thịnh đã gửi hai tờ chiếu cho sứ bộ, một là để tỏ lòng thông cảm với cảnh ngộ khó khăn của khách phương xa, hai là nhằm chỉ thị cho chính quyền địa phương tận tình giúp đỡ các sứ giả Anh quốc. Đặc biệt qua 2 tờ chiếu, ta cũng thấy được phần nào quan điểm về lãnh hải và chính sách ngoại giao đầy thiện chí của triều đình Tây Sơn lúc bấy giờ. Chẳng hạn tờ chiếu mang ký hiệu OR.148 17/a có câu: “Bản triều bao trùm cả Nam Hải”. Ấy là một tuyên bố về chủ quyền. Ở tờ chiếu mang ký hiệu OR.1487/b có đoạn: “Thần tử của quý quốc cũng là thần tử của ta. Các khanh là những bậc tôi hiền, chịu đựng vất vả, trẫm thấy rất đáng khen. Vậy đặc biệt ban chiếu chỉ sai quan trấn thủ địa phương cung cấp thực phẩm cho các khanh để tỏ lòng quý mến, thông cảm với khách đường xa”. ấy là một biểu tỏ về đường lối ngoại giao thân thiện.
Được sự đồng ý của Thư viện Vương quốc Anh (The British Library), chúng tôi đã giới thiệu bản dịch 2 tờ chiếu này trong bài Sách Hán Nôm tại thư viện Anh quốc đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 3 năm 1995. Nay lại nhận được bản chụp màu thu nhỏ của 2 tờ chiếu vừa nêu do Thư viện Vương quốc Anh gửi tặng và cho phép công bố, nên dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu, ngoài bản dịch nghĩa, còn có cả nguyên văn chữ Hán và phần phiên âm Hán Việt của 2 tờ chiếu để bạn đọc cùng tham khảo. Phần nguyên văn chữ Hán, xin xem ở bản chụp 2 tờ chiếu in ở bìa 3 và bìa 4 của số tạp chí này.
1. Tờ chiếu mang ký hiệu OR.14817/a
Phiên âm:
Chiếu Anh Cát Lợi Hồng mao quốc Đại thừa tướng Đầu đẳng, khâm sai Ma Khiêu Nhĩ Nê đẳng... (mất 2 chữ) đẳng.
Vị phong đào sở trở bạc ngã cảnh giới, thượng biểu bị trần phạp thực, nguyện mãi tình do, tịnh tiến hảo hảo vật kiện, Trấn thần chuyển vị đề bạt.
Thả bản triều nang quát Nam Hải. Phàm chư quốc thương tào viễn thiệp hải trình, nguyên tàng ư thị, hoặc vị phong ba phiêu bạc nhi cầu an bão giả, trẫm hàm suy bào dữ chi nhân, tịnh sinh tịnh dục.
Thẩn khanh đẳng phụng quý quốc vương mệnh vãng sứ thiên triều, đồ trung quỹ phạp, trẫm chi tình vi hà như tai? Đặc ban tứ túc tử tam thiên hộc dĩ cung đồ trình nhu, túc an dụng mậu dịch vi giã. Tịnh gia thưởng quý quốc vương thân Đại thừa tướng tượng nha nhất đối, hồ tiêu ngũ đảm, dụng phu hảo ý, thức úy viễn tình, Khâm tai, đặc chiếu!
Cảnh Thịnh nguyên niên ngũ nguyệt sơ nhất nhật.
Dịch nghĩa:
Tờ chiếu gửi Vương thân Đại thừa tướng Đầu, Khâm sai Ma Khiêu Nhĩ Nê, và... (mất 2 chữ) thuộc nước Hồng mao Anh Cát Lợi.
Vì sóng to gió lớn, các khanh phải ghé thuyền vào biên cảnh nước trẫm để trú ẩn, có làm tờ biểu tâu lên, nói rằng hiện đang thiếu lương thực, ngỏ ý muốn mua. Lại gửi một số quà tặng nhằm tỏ tình giao hảo. Quan Trấn thủ địa phương đã vì các khanh mà chuyển đạt mọi ý kiến với trẫm rồi.
Vả lại, bản triều bao trùm cả Nam Hải. Phàm tàu viễn dương các nước muốn đến náu nơi chợ búa vùng này để buôn bán, hoặc vì sóng to mà trôi dạt tới đây, mong được yên ổn, no đủ, trẫm đều lấy lòng nhân mà đối xử, cùng sinh cùng nuôi, con người trong bốn bể như anh em một nhà.
Huống chi các khanh vâng lệnh quý quốc đi sứ Thiên triều, giữa đường thiếu thốn, trẫm biết làm sao đây ? Đặc biệt cấp cho các khanh 3.000 hộc gạo để dùng vào việc đi đường cũng như tiến hành buôn bán. Và thưởng thêm cho Vương thân Đại thừa tường của quý quốc 1 đôi ngà voi cùng 5 gánh hạt tiêu để tỏ lòng quý mến, thông cảm với khách đường xa. Cung kính thay, đặc biệt ban tờ chiếu !
Ngày 1 tháng 5 năm Cảnh Thịnh 1 (1793).
2. Tờ chiếu mang ký hiệu OR.148117/b
Phiên âm:
Chiếu Anh Cát Lợi Hồng mao quốc Tướng quân Mã Kim Đa, Đại học sĩ Nghĩa Lan, Ngự sử Mã Tư ích, Đại bút sử Bố Tư ách cập á Di Nhĩ, Đương thế tập án sát ty Bả La Ni đẳng khâm tri.
Trẫm văn tự cổ thông quốc hữu tận di chi nghĩa. Khanh đẳng phụng quý quốc vương mệnh nhập cống thiên triều, bị phong phạp thực, hiện bạc cảnh nội Quảng Nam xứ, trấn thần cụ sự đề đạt.
Trẫm duy quý quốc hữu thủy trình thiên vạn lý chi dao, nhi năng mộ đức khiển sư, đồ trung vị phong sở trở, phiêu bạc chí thử. Quý quốc chi thần tử. Đặc chiếu ban hạ Trấn thần ban tống chư thực phẩm, dụng phu hảo ý, thức uý viễn tình. Khanh đẳng kỳ trung tín nhất xoang hỉ khán phong phàm chi đắc lực, chu xa đại địa, kiền tuơng quốc mệnh dĩ quan quang. Chỉ nhật công thành, ngưỡng thừa quốc sủng, dĩ phó quý quốc vương huyền vọng, khanh đẳng chi tâm khả giã. Khâm tai, đặc chiếu !
Cảnh Thinh... (mất một số chữ) nguyệt nhị thập nhật.
Dịch nghĩa:
Tờ chiếu gửi tướng quân Mã Kim Đa, Đại học sĩ Nghĩa Lan, Ngự sử Mã Tư ích, Đại bút sử Bố Tư ách và Bả La Ni nước Hồng mao Anh Cát Lợi để biết.
Trẫm nghe từ xưa các nước đi lại với nhau thường có quà tặng cho người từ nơi xa đến. Các khanh vâng mệnh quý quốc vương vào cống Thiên triều, bị bão nên thiếu lương thực, hiện đậu thuyền ở xứ Quảng Nam thuộc nước trẫm, quan Trấn thủ địa phương đã đề đạt mọi việc lên trên.
Trẫm nghĩ quý quốc ở cách xa hàng nghìn vạn dặm đường biển, vì mến đức mà sai sứ tới, giữa đường bị bão, phải trôi dạt vào đây. Thần tử của quý quốc cũng là thần tử của thần ta. Các khanh là những bậc tôi hiền, chịu đựng vất vả, trẫm thấy rất đáng khen. Vậy đặc biệt ban chiếu chỉ sai quan Trấn thủ địa phương cung cấp thực phẩm cho các khanh để tỏ lòng quý mến, thông cảm với khách đường xa. Các khanh một lòng trung tín, mong được thuận buồm xuôi gió vượt trùng dương đi sứ phương xa. Không bao lâu công việc hoàn thành, được nước nhà tin sủng, đáp lại kỳ vọng của quốc vương, tấm lòng các khanh thật đáng khen. Cung kính thay, đặc biệt ban tờ chiếu!
Ngày 20 tháng... (mất một chữ) năm Cảnh Thịnh... (mất 2 chữ)(1).
T.N
CHÚ THÍCH
(1) Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn bà Elizabeth HUNTER, nhân viên Phòng ảnh, và Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trí, người phụ trách kho sách Việt Nam tại Thư viện Anh quốc đã tận tình giúp đỡ, để 2 tờ chiếu của vua Cảnh Thịnh có dịp đến với bạn đọc qua số Tạp chí Hán Nôm này.

TB








MẤY NHẬN XÉT VỀ VIỆC PHIÊN ÂM VÀ KHẢO ĐÍNH NHỊ ĐỘ MAI





MẤY NHẬN XÉT VỀ VIỆC PHIÊN ÂM VÀ KHẢO ĐÍNH NHỊ ĐỘ MAI
Trong các truyện Nôm của ta, ngoài những quyển như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự (Nguyễn Thiện nhuận sắc), Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu... còn có những quyển tuy văn chương không được đặc sắc bằng nhưng cũng đáng kể là có giá trị như Phan Trần, Bích câu kỳ ngộ, Quan Âm Thị Kính, Nhị Độ Mai, Thạch Sanh, Phạm Công Cúc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Phương Hoa, Nữ tú tài...
Các tác phẩm này đều khuyết danh và cũng không biết đã được viết ra vào năm nào, chỉ được phổ cập trong giới bình dân nên khi phiên âm sang chữ Quốc ngữ cũng không có ai in lại bản Nôm, kể cả mấy quyển có giá trị như Phan Trần, Bích câu kỳ ngộ, Nhị độ mai...
Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ xin nói về quyển Nhị Độ Mai.
*
Truyện Nhị độ mai có nhiều bản bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ.
Bằng chữ Nôm có những bản in của các nhà Quan Văn đường, Phúc Văn đường, Tạ Văn đường, Đồng Văn đường, Quảng Thịnh hiệu...
Bằng chữ Quốc ngữ có các bản của nhà sách ích Ký ở Hà Nội (1920), nhà in Văn Minh ở Hải Phòng (1922), nhà in Kim Khuê ở Hải Phòng (1924), nhà in Ngô Tử Hạ ở Hà Nội (1926), nhà xuất bản Ngày Mai ở Hà Nội (1949), nhà xuất bản Tân Việt ở Sài Gòn (1952), nhà xuất bản Phổ Thông ở Hà Nội (1957), nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp ở Hà Nội (1988)...
Tất cả các bản ấy đều có những chỗ khác nhau: có khi là một chữ, có khi là một đoạn mấy chữ, có khi là một câu, có khi là một đoạn mấy câu.
Chính vì lẽ ấy mà năm 1972, nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội đã cho in quyển Nhị độ mai do Hoàng Ngọc Phách và Lê Trí Viễn khảo luận, chú thích và hiệu đính căn cứ vào 5 bản:
A- Bản chữ Nôm của Quan Văn đường
B- Bản của nhà in Ngô Tử Hạ.
C- Bản của nhà xuất bản Ngày Mai.
D- Bản của nhà xuất bản Tân Việt.
E- Bản của nhà xuất bản Phổ thông.
Theo Lời nói đầu của quyển Nhị độ mai thì hai soạn giả đã lấy bản chữ Nôm, Quan Văn đường là bản cũ hơn cả làm bản chính rồi đem so sánh với bản B-C-D-E để làm Khảo dị.
Nhưng chúng tôi không khỏi thắc mắc khi thấy từ câu 1 đến câu 2820, không có một câu nào ghi của bản A khác với bốn bản Quốc ngữ B-C-D-E mà chỉ thấy ghi bản B khác với bản C hoặc bản D và E.
Chẳng lẽ hai soạn giả đã không có bản Nôm Quan Văn đường để làm Khảo dị mà chỉ ghi cho có hình thức thôi nên đã ghi không đúng cả tên sách.
Thay vì phải ghi: “Nhuận chính trung hiếu tiết nghĩa Nhị Độ Mai truyện. Thành Thái Đinh Mùi xuân Quan Văn đường tàng bản”, đã ghi vắn tắt là: “Nhị độ mai (bản in gỗ) Quan Văn đường tàng bản - Hà Nội - 1907”.
Do sự ngờ vực ấy, chúng tôi đã lấy bản “Nhuận chính Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai truyện” của Quan Văn đường ra để đối chiếu lại thì thấy có nhiều chữ khác với các bản Quốc ngữ B-C-D-E và có nhiều chữ các bản Quốc ngữ đã phiên âm sai hoặc đã in sai rồi cứ sao chép lẫn của nhau mà nhân lên các sai lầm.
Chúng tôi xin đưa ra một số thí dụ để dẫn chứng như sau:
I- Những chữ bản A khác với các bản B-C-D-E.
Số chữ bản A khác với các bản B-C-D-E thì rất nhiều, chúng tôi chỉ xin liệt kê ra một số thí dụ như sau:
Câu 18:
A: Nhà Đường truyền đến là đời Đức Tông.
B-C-D-E: Nhà Đường truyền vị đến đời Đức Tông.
A: Tơ kia nghĩ phải duyên trời.
B-C-D-E: Tơ kia đã phải duyên trời.
Câu 50:
A: Uốn lưng khuất gối cũng nhơ một đời.
B-C-D-E: Uốn lưng co gối cũng nhơ một đời.
Câu 75:
A: Cũng đừng theo gót lôi thôi.
B-C-D-E: Cũng đừng bịn rịn lôi thôi.
Câu 93:
A: đàn, phượng độc chắc đâu.
B-C-D-E: Sẻ đàn, phượng độc chắc đâu.
Câu 107:
A: Chẳng sai hổ phụ lân nhi.
B-C-D-E: Mới hay hổ phụ lân nhi.
Câu 142:
A: Gọi là ngày gió ngày mưa theo hầu.
B-C-D-E: Gọi là ngày gió ngày mưa đi hầu.
Câu 158:
A: Thỏa lòng hồ thỉ, rỡ mình đai cân.
B-C-D-E: Thỏa lòng hồ thỉ, phỉ tình đai cân.
Câu 192:
A: Mà lòng tạc đá ghi vàng dám sai.
B-C-D-E: Mà lòng tạc đá ghi vàng không sai.
Câu 212:
A: Trông theo đã khuất dâu xanh mấy trùng.
B-C-D-E: Trông theo đã khuất mây xanh mấy trùng.
Câu 434:
A: Vua Đường rằng: “Mới tin ngoài lại tâu”.
B-C-D-E: Đường Hoàng rằng: “Mới tin ngoài lại tâu”.
Câu 534:
A: Tôi đương nạn ấy, người tìm lánh xa.
B-C-D-E: Tôi đương nạn ấy, người tìm nẻo xa.
Câu 717:
A: Trông hoa lại khấn mấy lời.
B-C-D-E: Trông hoa lại nhớ mấy lời.
II- Những chữ các bản Quốc ngữ B-C-D-E phiên âm sai hoặc sao chép sai so với bản A.
Số chữ các bản Quốc ngữ B-C-D-E sao chép sai do phiên âm sai cũng nhiều. Chúng tôi chỉ xin liệt kê ra đây một số thí dụ như sau:
Câu 263:
A: Bách quân đông chật sân phong.
Hai chữ 冬 秩 (đông chật) đã được phiên âm sai thành đóng chặt ở các bản B-C-D-E. Chữ đông viết Nôm là 凍 hoặc @.
Câu 297:
A: Ta đây vốn chẳng cầu chi.
Chữ 求 (cầu) đã bị sao chép hoặc in sai thành cần vì chữ u và chữ n viết dễ lẫn với nhau. Nếu viết theo chữ Nôm hoặc chữ Hán thì chữ 求 (cầu) có tự dạng khác hẳn với chữ 勤 (cần) không thể lầm lẫn được.
Câu 639:
A: Tiểu đây kẻ khéo có thừa.
Chữ 丗 (kẻ) đã bị sao chép hoặc in sai thành chữ kể vì “ẻ” và “ể” chỉ khác nhau có dấu “Ù”. Nếu viết theo chữ Nôm thì chữ 丗 (kẻ) có tự dạng khác hẳn với chữ 計 (kể).
Câu 697:
A: Một vườn cảnh vật tiêm tân.
Chữ 尖 (tiêm) đã bị sao chép hoặc in sai thành tiên vì chữ “m” dễ viết lầm thành “n”. Nếu viết theo chữ Hán thì chữ 尖 (tiêm) có tự dạng khác hẳn với chữ 鮮 (tiên). Tiêm tân có nghĩa là tươi tốt đẹp đẽ ( Tiêm: tốt đẹp).
Câu 1010:
A: Ngắm xem phong cảnh bốn bên lưng chừng.
Chữ 裈 (ngắm) đã bị sao chép hoặc in sai thành ngẫm vì chữ “ắ” và chữ “ẫ” viết dễ lầm lẫn với nhau. Nếu viết theo chữ Nôm thì chữ 裈 (ngắm) có tự dạng khác hẳn với chữ 吟 (ngẫm). ở câu này chữ “ngắm” thích hợp hơn: Ngắm xem phong cảnh.
Câu 1090:
A: Sương đằm cỏ áy, gió reo cây già.
Chữ 潭 (đằm) đã bị sao chép sai thành soi. Nếu viết theo chữ Nôm thì chữ 芁 (soi) so tự dạng khác hẳn. Chữ “đằm” ở câu này mới có nghĩa.
Câu 1139:
A: Son vàng mặt khám tay ngai.
Chữ 龕 (khám) đã bị sao chép hoặc in sai thành khảm vì dấu “ ’ ” và dấu “?” dễ bị lầm lẫn. Nếu viết theo chữ Hán và chữ Nôm thì chữ 龕 (khám) và 坎 (khảm) có tự dạng khác hẳn nhau, không thể lầm lẫn được.
Câu1496:
A: Mẽ hình tú hộ khác tuồng ngư gia. Chữ 戶 (hộ) đã bị sao chép hoặc in sai thành bộ vì chữ “h” và chữ “b” dễ bị lầm lẫn. Tú hộ là cửa nhà sang trọng đẹp đẽ, chỉ nhà giàu có.
Các bản B-C-D-E đều chép là Mai hình tú bộ khác phương ngư gia.
Bản Văn học (1972) đã chú thích Mai hình tú bộ là thân hình manh mảnh như cây mai, gót đẹp như thêu gấm, ý tả người con gái tuyệt đẹp.
Giảng như vậy thì sai vì đã phiên âm không đúng với bản chữ Nôm.
Nếu phiên âm đúng với bản chữ Nôm:
Mẽ hình tú hộ khác tuồng ngư gia thì câu thơ ấy có nghĩa là: “vẻ người rõ là con nhà sang trọng quyền quí khác với những hạng tầm thường con nhà chài lưới. Hai chữ “tú hộ” là đặt đối với hai chữ “ngư gia”. Ngoài ra chữ 惥 (mẽ) không thể đọc là mai được. Chữ 梅 (mai) viết khác hẳn và là chữ Hán chứ không phải là chữ Nôm.
Câu 1746:
A: Bên giường triện bách, trước bình phòng lan.
Chữ 房 (phòng) đã bị sao chép hoặc in sai thành phong vì chỉ khác nhau có một cái dấu huyền “ ` ”. Câu này được đặt theo tiểu đối: “bên giường” đối với “trước bình”, “triện bách” (bàn nhỏ bằng gỗ bách) đối với “phòng lan” (phòng đọc sách) chữ phong (風) viết khác hẳn với chữ phòng.
Câu 1789:
A: Phu nhân những hậu vì tình.
Chữ 厚 (hậu) đã bị sao chép hoặc in sai thành hận, vì chữ “u” và chữ “n” viết dễ lẫn chữ nọ ra chữ kia. Nếu viết chữ Nôm thì chữ 恨 (hận) có tự dạng khác hẳn với chữ hậu.
Ở câu này phải dùng chữ “hậu” mới có nghĩa và mới đi với câu dưới: Mời thầy thuốc, cắt đồng sinh giữ gìn. Nếu đã “hận vì tình” thì không khi nào lại cư xử tốt như vậy.
Câu 2344:
A: Thiên văn khảo đến, một hai tra cùng.
Chữ 查 (tra) đã bị sao chép sai hoặc in thành cho.
Ở câu này chữ “tra” mới có nghĩa vì được đặt đối với chữ “khảo” ở trên. Cả câu cũng được đặt theo phép tiểu đối:
Thiên văn khảo đến, một hai tra cùng.
Hai bản D-E chép là: Đại nhân xin xét một hai cho cùng thì không đúng với bản Nôm.
Câu 2369:
A: Buổi chầu vừa rạng ngày mai.
Chữ 朝 có thể đọc là triều, chầu hoặc chiều. Ở đây phải đọc là chầu mới đúng nghĩa. Bản của nhà xuất bản Tân Việt chép là “triều” thì cũng được, nhưng bản của nhà xuất bản Văn học (1972) và bản của nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1988) chép là “chiều” thì đều sai.
Trong Truyện Nhị độ mai còn có câu 433 cũng viết y như câu 2369 là:
Buổi chầu vừa rạng ngày mai.
Tất cả các bản Quốc ngữ đều phiên âm như vậy.
Câu 2454:
A: Đèn gần chong sáp, đỉnh xa bay trầm.
Câu này bản của nhà xuất bản Văn học và bản của nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã chép sai là:
Đèn gần chong sáng, đỉnh xa bay trầm. Bản Tân Việt chép đúng với bản Nôm. ở câu này chữ sáp được đặt đối với chữ trầm.
Câu 2763:
A: Xin làm ngọc xuyến kim thoa.
Chữ 釵 (thoa) đã bị sao chép hoặc in sai thành hoa. Bản của nhà xuất bản Văn học còn chú thích Ngọc xuyến kim hoa là xuyến ngọc hoa vàng thì sự sai lầm này lại càng rõ ràng. ở đây phải chép là kim thoa tức cái thoa vàng mới đúng.
III- Những bài thơ Đường của các nhân vật trong truyện
Hầu hết các bản Nhị độ mai xuất bản trước đây đều có những bài thơ Đường luật (thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt) của các nhân vật trong truyện. Các bài thơ ấy, ở các bản Nôm, được chép phụ thêm ở tầng trên cùng, còn ở các bản Quốc ngữ thì được chép ở phần chú thích.
Quyển Nhị độ mai của Quan Văn đường tàng bản có chép cả các bài thơ bằng chữ Hán trích từ truyện Nhị độ mai của Trung Quốc kèm theo bài diễn âm.
Quyển Nhị độ mai của nhà xuất bản Văn học có chép lại một số các bài thơ diễn âm ấy nhưng đã không đúng theo đúng với bản Quan Văn đường mà chép theo bản Tân Việt.
Vì là phần phụ nên chúng tôi chỉ nêu ra một hai thí dụ như sau:
1- Về sự khác biệt giữa hai văn bản:
Thơ của Trần Xuân Sinh (sau câu 784):
Bản Nôm Quan Văn đường chép là:
Mấy đóa hoa mai bóng dễ gần,
Hương đâu sực nức một vườn xuân.
Chứng lòng trời khiến hoa kia nở,
Xưa một lần thơm lại một lần.
Bản Tân Việt và bản Văn học chép là:
Mấy sắc mai hoa bóng dễ gần,
Khác chi hớn hở một nhà xuân.
Chứng cho trời khiến hoa kia nở,
Xưa một lần nay lại một lần.
2- Về sự sao chép hoặc phiên âm sai.
Thơ của Hạnh Nguyên làm (sau câu 790):
Bản Nôm Quan Văn đường chép là:
Trời chửa dứt dòng trung nghĩa ấy,
Nên cho hoa lại nở hai lần.
Bản Tân Việt và bản Văn học chép là:
Trời chớ dứt lòng trung nghĩa ấy.
Nên cho hoa lại nở hai lần.
Chép như vậy thì sai vì chữ Nôm viết: 俼 荘 瀭 匇 phải phiên là: trời chửa dứt dòng mới đúng nghĩa. Dòng đây là dòng họ, dòng dõi. Cả câu ý nói: “Trời chửa dứt dòng dõi nhà họ Mai nên Hỉ Đồng - tức Mai Lương Ngọc vẫn còn sống sót. Chữ 荘 nếu phiên âm là “chớ” thì cũng sai vì không hợp ý của câu thơ.
*
Qua ba phần trình bày ở trên chúng tôi mới chỉ nêu ra được một số sai lầm của bản Văn học in năm 1972.
Cho tới nay, hầu hết các bản Quốc ngữ đều không có phần khảo dị và có thể nói là các bản Quốc ngữ in ra về sau đều cứ bản nọ sao chép lại của bản kia chứ không có đối chiếu với các bản Nôm để hiệu đính hoặc phiên âm từ các bản Nôm. Chính vì lẽ đó mà các sai lầm - như chúng tôi đã trình bày ở trên - càng trở thành phổ biến.
Đến năm 1988, nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp lại cho in quyển Nhị độ mai do Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích (sau được nhà xuất bản Văn học cho tái bản năm 1994) nhưng vẫn còn các lỗi như trên tuy - theo lời nhà xuất bản - có tham khảo thêm bản Nôm năm Tự Đức, Bính Tý..
Thật cũng là một điều đáng tiếc.
Vậy để kết luận cho bài viết này, chúng tôi cho rằng việc phiên âm, khảo đính và chú thích các truyện Nôm cổ - nhất là các tác phẩm khuyết danh như truyện Nhị độ mai - cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc hơn cũng như chúng ta đã làm với các tác phẩm của Nguyễn Du (Truyện Kiều), Nguyễn Huy Tự (Hoa tiên), Nguyễn Đình Chiểu (Lục Vân Tiên), Đoàn Thị Điểm (bản dịch Chinh phụ ngâm) v.v...
Người biên tập: Trần Nghĩa

TB







NGUYỄN QUỲNH VÀ TRẠNG QUỲNH





NGUYỄN QUỲNH VÀ TRẠNG QUỲNH
Một hiện tượng khá lý thú của văn học dân gian nước ta là sự pha trộn trong nhiều trường hợp yếu tố truyền thuyết, thường đượm thêm màu sắc thần kỳ.Truyện được kể lại với người và việc có thật trong lịch sử, nơi diễn ra những sự kiện vẫn còn lưu lại những tên gọi ở địa phương. Đó là chứng tích được coi như bảo đảm tính xác thực của câu chuyện. Đời Lý, Bà Tấm được đồng nhất với thái hậu ỷ Lan, quê ở xã Dương Quang, huyện Gia Lâm; còn truyền lại bài ca sự tích Tấm Cám, với những địa điểm đã diễn ra những sự kiện. Cuối triều Lê, có Trạng Quỳnh, nhân vật truyền thuyết được tạo dựng dựa trên một nhân vật lịch sử: Cống Quỳnh tức Nguyễn Quỳnh. Sách Trạng Quỳnh (Nguyễn Đức Hiền sưu tầm, biên soạn, Hà Văn Tấn giới thiệu gia phả, dịch văn; Nxb. Văn học, Nxb. Thanh Hóa, 1987) ra mắt bạn đọc gần đây đã được đặc biệt chú ý, vì không những nó tập hợp được gần như toàn bộ những câu chuyện kể về nhân vật truyền thuyết Trạng Quỳnh, mà còn lần đầu tiên công bố trên sách nhiều tư liệu về đời sống, quê hương, sự nghiệp văn học của Cống Quỳnh, cho phép hiểu rõ thêm về nhân vật lịch sử này, đã là khởi điểm cho việc hình thành nhân vật truyền thuyết Trạng Quỳnh nổi tiếng trong văn học dân gian. Cuốn sách có 3 phần chính. Phần đầu có thể coi như dành cho nhân vật lịch sử Nguyễn Quỳnh tức Cống Quỳnh, do Giáo sư Hà Văn Tấn viết, giới thiệu gia phả, dịch và chú thích. Phần 2 tập hợp những câu chuyện (40 mục) về Trạng Quỳnh. Phần 3 là bài ký về làng Bột Thượng, quê Nguyễn Quỳnh, được địa phương đồng nhất với Trạng Quỳnh và là ông tổ 8 đời của người viết, nhà văn Nguyễn Đức Hiền. Cuốn sách còn thêm phần hấp dẫn do được kèm theo mấy bức ảnh về bút tích gia phả, nhà thờ đại tông họ Nguyễn và nhà thờ riêng của Nguyễn Quỳnh (Phần 1), cùng những minh hoạ do ngọn bút tài hoa của nhà họa sĩ lão thành Mạnh Quỳnh, không ký tên đầy đủ, nhưng ký hiệu MQ thành hình con chuột (M là đội tai chuột, Q là thân chuột với cái đuôi) đã rất quen thuộc với công chúng. Nhất là giới bạn đọc nhỏ tuổi, từ những năm 40 trước Cách mạng (Phần 2).
Phần đầu phân tích gia phả cho thấy Nguyễn Quỳnh sinh năm1677. Ông vốn rất thông minh, từ nhỏ được theo học, 20 tuổi (1696) đỗ Giải nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hương). Ông thi Hội nhiều lần không đỗ, từng làm Huấn đạo phủ Phụng Thiên. Năm1718, trúng tuyển khoa Sĩ vọng, được bổ Tri phủ phủ Thái Bình, một thời gian ngắn lại quay về Kinh đô, làm Viên ngoại lang bộ Lễ, sau chuyển sang chức Tu soạn toà Hàn lâm, sống ở Thăng Long cho đến cuối đời. Sách cho biết Nguyễn Quỳnh có tài văn học. Dân gian lưu truyền câu “Nguyễn Quỳnh Nguyễn Nham, thiên hạ vô tam” (Nguyễn Quỳnh Nguyễn Nham, dưới gầm trời không có người thứ ba sánh được). Nguyễn Nham hơn ông một tuổi, từng đỗ Tiến sĩ năm 1715, ba năm sau được cử chấm khoa thi Sĩ Vọng và đã lấy ông đỗ. Thế mà ông được xếp ngang hàng, đủ biết tài văn học của ông được người đương thời đánh giá cao. Tuy nhiên cuộc đời làm quan của ông không thật thanh thản, nhất là về đoạn cuối, từ chức Viên ngoại lang (tòng lục phẩm) chuyển làm Tu soạn tòa Hàn lâm (chính bát phẩm), bị tụt xuống 3 bậc. Theo Hà Văn Tấn “Rõ ràng ông bị biếm truất. Thời đó việc biếm truất đều do chúa Trịnh quyết định. Hẳn ông đã có những việc làm hay lời nói trái ý chúa”. (tr.15). Và tác giả khẳng định: “Cống Quỳnh hoàn toàn có đủ tư cách để trở thành khởi hình lịch sử của Trạng Quỳnh dân gian (tr.24). Sau phần phân tích gia phả, sách đã dịch 7 bài văn của Nguyễn Quỳnh còn được chép trong đó, và phiên âm kèm bản dịch cũng theo thể phú 2 bài phú chữ Hán của ông được chép trong Lịch triều danh phú: phú Kim bạch tài vật (vàng lụa của cải), và phú Tần cung phụ nữ (phụ nữ cung tần). Bài trên tả kho chứa của cải vàng lụa của nhà Tần, chê nhà Tần tham lam ngu ngốc chỉ biết thu gom tài sản, làm mất lòng dân, dẫn đến sự thất bại sụp đổ nhanh chóng. Bài thứ 2 nói về cung nữ của nhà Tần (được tập trung khá đông ở cung A Phòng nổi tiếng. Lưu Bang sau khi diệt nhà Tần đã theo lời khuyên của Tiêu Hà, không đụng chạm đến cung tần mỹ nữ. Cả 2 bài tuy chủ đề nói nhà Tân nhưng cốt đề cao thái độ đứng đắn không tham sắc tham tài của Lưu Bang, vua sáng lập nhà Hán. Hà Văn Tấn nhận xét: “Cả hai bài đều hay, đều tài tình. Người xưa coi là “danh phú” quả không sai và nhận định “vị trí của Nguyễn Quỳnh trong lịch sử văn học cần được đánh giá khác trước”.
Về nhân vật lịch sử Nguyễn Quỳnh, cho đến nay đã có khá nhiều tư liệu nói tới và khẳng định mối liên hệ với nhân vật truyền thuyết Trạng Quỳnh. Bên cạnh nhiều sách chữ Hán (chép tay), có thể mấy cuốn tiếng việt gần đây như Giai thoại văn học Việt Nam của Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch (Hà Nội 1965), Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (Sài Gòn 1966), Bộ Đại Nam nhất thống chí thời Tự Đức (Bản dịch, Nxb. KHXH, tập 2, 1970) phần tỉnh Thanh Hóa, mục nhân vật ghi tên Nguyễn Quỳnh, chép có chỗ không khớp với gia phả, như “Đầu đời Cảnh Hưng đỗ Hương tiến”, “không thích ra làm quan, giễu cợt khinh đời nhưng cho biết “văn học uẩn súc… phóng túng tự do, càng thích hài hước. Như vậy sách Trạng Quỳnh lần đầu tiên đã dựa vào gia phả cho biết nhiều chi tiết về đời sống Nguyễn Quỳnh, xác định năm sinh năm mất,và nhất là sưu tầm phiên dịch những sáng tác văn học của ông, trong gia phả, trong Lịch triều danh phú.
Về những bài văn trích từ gia phả và hai bài phú (trích từ Lịch triều danh phú trong Tạp chí Hán Nôm số 2 (11) 1991 đã có bài của Tảo Trang “Mấy sáng tác của nhag văn học Nguyễn Quỳnh” nên xin được miễn bàn thêm.
*
Phần Truyện Trạng Quỳnh do Nguyễn Đức Hiền kể gồm 40 câu truyện về Trạng từ thuở còn nhỏ tuổi cho đến khi mất. Chúng ta đều biết truyện Trạng Quỳnh được lưu hành khá rộng rãi bằng đường truyền miệng hoặc qua nhiều sách in hay chép tay, Hán Nôm hay Quốc ngữ. Nay được viết lại, so với những truyện được nghe kể hay được in từ trước, Truyện Trạng Quỳnh trong sách có thêm nhiều chi tiết, hoặc gắn liền với quê hương Bột Thượng, hoặc thêm một số sự việc khiến câu chuyện sinh động hơn. Nói chung lời kể hấp dẫn, có mạch lạc, cho thấy cả một hệ thống truyện cười có tính đả kích chiến đấu cao, chĩa vào hầu hết mọi khía cạnh của chế độ vua quan, thần quyền, tiêu biểu cho thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến cuối thời Lê Trịnh. Đây là địa hạt văn học dân gian, chuyện kể nói chung phải được chấp nhận là “hợp lý”, và giữa nhiều dạng chuyện kể, thường chỉ tồn tại những dạng nào hợp lý nhất, được công nhận nhiều nhất. Hiểu như vậy, chúng tôi thấy có mấy chỗ chưa thật thỏa đáng ở phần Truyện Trạng Quỳnh hoặc về mối liên hệ với quê hương Bột Thượng, hoặc về những chi tiết thêm thắt không hợp, hay cần đính chính bổ sung.
- Về mối liên hệ với quê hương Bột Thượng. Sau truyện số 33 Người bạn vô danh, có chú thích ở cuối tr.151 “truyện này không thấy trong truyền thuyết địa phương hoặc dòng họ nhắc tới”. Sau truyện Càng đố càng thua cũng có chú thích “Nội dung... dựa theo chuyện Trạng Quỳnh mới sưu tầm ở các tỉnh phía Nam”. Như vậy có thể kết luận rằng những truyện khác đều nằm trong truyền thuyết lưu hành ở địa phương được không? Và nếu đúng như vậy thì truyện Cúng thành hoàng (tr.124) có thể lưu hành ở Bột Thượng không? Truyện kể vợ Trạng bị ốm, nói với Trạng sắm lễ vật cúng Thành Hoàng ở làng. Trạng luộc hai quả trứng, ra đình đặt lễ rồi đọc bài văn: “Chú là kẻ cả trong làng, ta là người sang trong nước v.v.” và rồi vợ cũng khỏi bệnh (sau khi uống nắm lá hương nhu Trạng đưa về). Chuyện như vậy, khó mà tin rằng có thể được kể đời này qua đời khác ở ngay quê Trạng. Chẳng lẽ dân làng lại coi khinh chính vị thần được thờ ở đình, một vị thần ban phúc lộc cho toàn thôn họ? Chẳng lẽ họ lại chịu chấp nhận một lời khấn ngạo mạn bất kính, gọi Thành hoàng làng là “chú” tự xưng mình là “ta”, cùng món lễ “hai quả trứng” hàm ý vô cùng xấc xược, dù người ấy là Trạng? Câu chuyện được kể trước đây chỉ nói tới một vị Thành hoàng chung chung, coi như một truyện cười phản bác thần quyền, không thể đạt vào một địa phương cụ thể, không thể lưu hành ở chính địa phương đó.
Có một số chi tiết thêm thắt xét ra chưa thật ổn. Đơn cử mấy truyện sau đây:
- Truyện số 6: Tiên sư thằng “Bảo Thái” (tr.85), là một truyện táo bạo, tỏ rõ thái độ khinh miệt của dân đối với tên hiệu của vua, không ngại gọi đích danh để chửi. Chuyện kể trước đây dân bán thịt bị lừa, phẫn nộ chửi “tiên sư thằng bảo thái” (chỉ người bảo thái thịt rồi không mua), quên không nhớ “Bảo Thái” là tên hiệu vua đương thời. Nhưng nếu thêm “Nhà vua không làm gì bọn bán thịt mà bị chúng réo chửi oan, không còn mặt mũi nào dám ra khỏi cổng thành nữa”, thì e rằng không hợp lý, khó xảy ra trong bối cảnh lịch sử đương thời. Nhất là thời Lê Dụ Tông (có niên hiệu Bảo Thái) không phải là một triều đại yếu kém, mất lòng dân. Trong Lịch triều hiến chương loại chí (Nhân vật chí) Phan Huy Chú đánh giá: “Nối nghiệp thái bình, không biết việc đao binh, trong nước vô sự. Triều đình đặt nhiều pháp chế, khuôn phép đầy đủ, kỷ cương nghiêm minh, phương xa đến cống, Trung Quốc trả lại đất. Thật là đời cực thịnh”. (X. bản dịch Nxb. Sử học, 1960, Tập I, tr.174) (Sách Trạng Quỳnh tr.228 còn thấy ghi “lũ vua hèn Hy Tông, Dụ Tông...” lời xét đoán này cũng cần xem lại, nhất là lại được đặt ở miệng vị “Bát đại tổ” tức Nguyễn Quỳnh).
- Truyện số 9: Quyển sách quý. Trạng Quỳnh đưa Chúa xem quyển sách có viết mấy câu: “Ngã đàm chi thế. Ngã đàm viết tả tô chấn tân thịnh nền giai khống xái châu”. Và theo lệnh chúa, Quỳnh đã “diễn nghĩa trôi chảy”: “Tôi lạm bàn về thế sự. Tôi bàn rằng: mình phải tả, phải tô điểm, phải làm cho hưng phấn thêm cái nền thịnh trị mới mẻ, đẹp vô cùng, châu báu cũng không sánh kịp” (Lời Trạng Quỳnh, có lược bỏ những đoạn câu chữ Hán được nhắc lại trước khi giảng giải). Câu chữ Hán viết sai mẹo mực, không có nghĩa gì, có thể coi là “bất thành cú”. Bài “diễn nghĩa trôi chảy” thực ra chẳng trôi chảy chút nào. Thế mà “nghe xong, chúa thở phào khoan khoái, khen Trạng: “Điều khanh viết trong sách thật hợp với ý ta. Đó là những danh ngôn, khanh nên giữ gìn cẩn thận để còn truyền cho mãi mãi về sau...”. Truyện kể thật khó tin!
- Truyện số 12: Lại lỡm quan thị. Quỳnh đến nhà quan thị đứng đầu giám ban, đọc cho nghe vế đối: “Thị vào chầu, thị đứng trông thị muốn ấy, thị không có cậy”, giảng cho biết ý “móc máy” trong đó, và nói là thấy nó ở dinh Đề Đốc; Rồi Quỳnh lại sang nhà Đề Đốc, nói đã thấy một vế đối ở “dinh Trưởng giám ban”, nghe “chua chát lắm, sâu cay lắm” và đọc. “Vũ ỷ mạnh, vũ ra vũ múa, vũ bị mưa, vũ bện xoắn lông”. Thế là “quân quan Đề đốc với bọn kiêu binh của Trưởng giám ban choảng nhau một trận ra trò. Phía quan thị hai người trọng thương, còn bên dinh Đề đốc thì nhà sảnh bị phá tan hoang...”. Người nghe chuyện không khỏi ngạc nhiên khi thấy hai bên chỉ bằng vào lời nói của Quỳnh, không hề đến tận chỗ dò hỏi xác minh sự thực (việc làm không khó gì), mà lại gây ngay chuyện ẩu đả. Truyện này về Trạng Quỳnh, tôi nhớ chưa từng đọc hay nghe thấy. Riêng câu đối thì vẫn được truyền tụng như một câu khéo gò chữ (chữ: “thị” và chữ “vũ” gắn liền với những nghĩa của từng chữ đồng âm có nghĩa khác nhau). Xem Câu đối Việt Nam của Phong Châu, Nxb. Văn Sử Địa, 1959: Quan thị và quan võ xỏ nhau, tr.218, có vài chữ khác.
- Truyện số 28: Thăm chúa ngủ ngày (tr.135). Truyện kể Trạng Quỳnh một buổi trưa vào thăm chúa, thấy đang ngủ, bèn đề hai chữ “ngọa sơn”. Chúa hỏi nghĩa, Trạng giải là “nằm ở trên núi”, “lên núi nằm hóng mát”, không có nghĩa gì khác. Chúa tin, không hỏi gì thêm. Nhưng khi chúa và chính cung cùng đi thăm cảnh đồng áng ngoài thành, nông dân thấy đã reo to “ngọa sơn”. Chúa cho bắt một người đến hỏi, người này “run lật bật” nói do Trạng Quỳnh có lần vào nội phủ về mách chúa đang bận “ngoạ sơn” và giảng thành “ngáy đèo”, “nói lái nghe rất tục”. Truyện kết: “Hiểu rõ đầu têu chuyện này là Trạng Quỳnh, bà chính cung nghĩ bụng, càng bới chuyện ra chỉ càng thêm xấu mặt. Đành giục Chúa lên kiệu phới cho nhanh”.
Sách chữ Nôm Sự tích ông Trạng Quỳnh (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm ký hiệu AB.405) hồi 22 “chúa ngủ ngày” (tr.24b) kể chuyện Trạng đề hai chữ “ngoa sơn”, chúa hỏi các quan, không ai hiểu, phải triệu Quỳnh vào. Quỳnh giải thành “ngáy đèo”, “cả triều ai cũng bật cười, mà chúa cũng phải cười”. Như vậy truyện ghi trong Trạng Quỳnh chỉ là một dạng kể khác, với đoạn sau xét kỹ không thật hợp lý, vì khó mà tưởng tượng được dân chúng muốn mang vạ vào mình mà đi reo hò hai tiếng “ngọa sơn”, biết rõ cái nghĩa không hay của nó đối với vợ chồng chúa, có thể dễ chuốc sự trừng phạt tàn khốc.
Truyện Trạng Quỳnh do Nguyễn Đức Hiền kể có ưu điểm là đã sưu tầm được khá phong phú, tỷ như so với sách chữ Nôm Sự tích ông Trạng Quỳnh (đã dẫn trên) thì đầy đủ hơn, với những truyện lý thú như Phơi sách phơi bụng (tr.117), Lễ tế sao (tr.129). Một số bài còn ghi thêm “dị bản”, như ở tr.123 (bài Đề tựa Bà Đanh), trang 129 bài Mừng chúa thắng trận) có ghi thêm xuất xứ ở sách Nam thiên lịch đại tư lược sử). Tuy nhiên giá có thể đặt kế hoạch, ngoài việc sưu tầm những chuyện kể ở địa phương (bao gồm quê hương Bột Thượng và cả vùng lân cận), còn tập hợp những tư liệu trong các sách Hán Nôm và Quốc ngữ về Trạng Quỳnh (mấy cuốn Hán Nôm được Hà Văn Tấn ghi lại ở phần đầu, tr.23, ct.1 và 2), đồng thời có sự so sánh phê phán cần thiết, chắc chắn sẽ là sự đóng góp quý giá cho mảng truyện cười dân gian liên can đến nhân vật truyền thuyết nổi tiếng này. Thí dụ, riêng về mặt tư liệu viết, có thể bổ sung Nam sử lược soạn giáp khoa lục (sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, VHv. 2141, tr. 396), bổ sung truyện Sứ tàu khiếp vía (tr.154), sau câu “vũ quá Bắc hải” đối lại câu “lôi động Nam bang” của sứ Tàu: “Trạng đái vào đầu sứ, sứ định đánh, Trạng nói: “Sấm trước mưa sau, lẽ trời đất là như vậy” (tiền phát lôi, hậu phát vũ, thiên địa chi lý nãi hĩ). Sứ Tàu đưa một khúc gỗ có đề ở chữ “hồ bất thực” đố đoán là gỗ gì. Trạng đoán “hồ bất thực” là “cáo chẳng ăn”, cáo chẳng ăn thì cáo gầy “cáo gầy” nói lái là “cây gạo”.
- Sự tích Ông Trạng Quỳnh (Sđd) hồi 17, tr.19a “Sẩm chơi nhà thổ” (Trạng bị mấy ả nhà thổ chèo kéo giằng co bèn tìm cách cho một bài học, bầy mưu cho mấy anh sẩm đóng giả vai quan thanh tra, đêm tối mặc áo giấy đi võng tới, các ả đón tiếp chu đáo, đến sáng mới biết bị lừa).
- Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (Sài Gòn 1966) tr.87-88 chép bài văn tế nhạc phụ và thân phụ Trạng Quỳnh do Trạng làm. Hai người chết gần ngày với nhau, nên đám tang cùng làm một bàn thờ chung và tế chung. Tuy nhiên đọc bài văn, chỉ thấy nói “hai ông”, không có chi tiết gì cho biết là bố đẻ và bố vợ. Lời văn có chỗ xấc xược, khó mà tin được do con khóc bố đẻ và con rể khóc bố vợ. Đây rất có thể chỉ là một bài tinh nghịch nhân chuyện hai ông thông gia nào đó, ngày mất gần nhau nên chung lễ mai táng, không hẳn chính là ông thân và ông nhạc của người làm bài vãn. Nhiều chuyện đã được gán cho nhân vật nổi tiếng Trạng Quỳnh để được thêm phần hấp dẫn.
- Từ điển văn học, Tập 2 (Nxb. KHXH, 1984) mục Trạng Quỳnh tr.415 kể mẩu chuyện Ngọc người khá lý thú, và ghi chuyện Cây gòn (có lẽ là truyện đố khúc gỗ cây gạo có ghi mấy chữ “hồ bất thực” vừa nói trên).
Việc tham khảo những tài liệu cũ, ngoài việc giúp bổ sung một số truyện, còn cho phép đính chính một số sai sót trong sách:
- Về bài Quyển sách quý (tr.92) có câu: “Ngã đàm chi thế...” không có nghĩa được Trạng giảng cho chúa cũng không hợp lý như đã trình bày ở trên, sách Sự tích ông Trạng Quỳnh (Sđd) ở hồi 11: Lỡm quan thị cũng kể chuyện cuốn sách quý, nhưng ghi 2 câu chữ Hán như sau: “Chúa vị thị thần viết: vi cốt tứ dịch vi cốt tứ dịch. Thị thần quị vi tấu viết: thần phùng chỉ phát, thần phùng chỉ phát”. Và Quỳnh đã giảng cho chúa: “Chúa hỏi thị thần rằng: làm sương cho sáo; thị thần quỳ mà tâu Quỳnh phải nói “xin chúa đọc đảo ngược lại”. Được hiểu nghĩa, “bấy giờ chúa cùng thị (tức quan thị) mới biết rằng Quỳnh lỡm, mà bảo Quỳnh mang sách về” (tr.15a). Cũng là câu lỡm quan thị, bằng cách dịch nghĩa từng từ Hán ra tiếng Việt và sử dụng lối nói lái, nhưng hợp lý hơn câu “ngã đàm chi thế”.
- Tr.104: Trạng viết vào bài thi: “Ô hô ! Da trâu, tang mít, khả tri thành bưng bít chi công... Đám hội, nhà chay, nổi thì thùng chi hiệu...” Hai câu trên tiếp liền nhau, đặt chấm lửng ở giữa không hợp, nên thay bằng dấu chấm phảy hay dấu chấm thường. Sau nữa, 2 câu đối nhau, nên câu sau (vế sau) thiếu hai chữ. Giai thoại làng Nho (sđd, tr.87) chép 2 câu như sau: “ô hô, da trâu tang mít, tự ký thành bưng bít chi công; đám giỗ nhà chay, thượng ký đổ thì thùng chi hiệu” (tự ký thành: tự nó thành; thượng ký đổ; bèn đã đổ).
- Tr.105: Cũng bài thi hội (lần thứ 3), đầu đề chúa ra, hướng vào việc “chính cung sinh thứ nam”. Mượn điềm lành ấu chúa ra đời, mở đầu bài chính văn, Quỳnh viết ngay hai câu “phá” (ct.: câu mở đầu bài luận văn): “Quân tắc cổ, thần tắc cổ, đái hàm quan Nghiêu Thuấn chi dân. Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lại Đường Ngu chi sĩ”. Giải nghĩa theo chữ Hán, đại ý là:
“Vua hành đạo theo phép tắc xưa, bề tôi hành đạo theo phép tắc xưa, dân ắt được đội ơn quan, sống (yên vui) đời Nghiêu Thuấn.
Trên thật là vui, dưới thật là vui, kẻ sĩ nhìn vào đám đầu lại, cũng thấy được (ánh sáng) đời Đường Ngu.
Mới xem lướt, quan Đề điệu (ct.: quan Chủ khảo) đứng cạnh, liền tâu (nói rõ những ý bất kính bao hàm ở 2 câu trên).
Đoạn văn trên có mấy chỗ chưa được ổn:
1- Hai câu trên không thể là “câu phá”. Là câu phá, nó phải sát với đầu đề. Hai câu này không đả động gì tới “điềm lành sinh ấu chúa” là không hợp thức, khi chấm sẽ bị loại ngay, không thể có chuyện “mới xem lướt, chúa Trịnh đã định xếp bài vào giải nhất”. (và đúng ra, bài phải qua quan trường chấm rồi mới đưa lên chúa).
2- Lời giải nghĩa 7 chữ đoạn của cả 2 vế không sát với nguyên văn. Và theo lời giải, chữ “quan” ở vế trên và chữ “lại” ở vế dưới là 2 chữ Hán trong “quan lại”, nếu đúng thế, nghĩa câu chữ Hán cũng không thông. Về 2 câu này, trong Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (sđd), tr.85 chép như sau:
“Quân tắc cổ, thần tắc cổ, đái hàm quan Ngu Thuấn chi công; Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lại Đường Nghiêu chi trị”.
Hai câu phiên âm cho thấy có khác mấy chữ thật ra không quan trọng (trừ ở câu trên, chữ “công” hợp hơn chữ “dân”, đi liền với nghĩa toàn câu hơn). Điều quan trọng là sách trên ghi rõ chữ Hán, cho phép hiểu “đái hàm quan” (kính cẩn đều nhìn nhận thấy), “ỷ đầu lại” (dựa đầu tiên vào sự nhờ cậy: hơi có trùng ý giữa 2 chữ ỷ và lại, vì cố gò hai tiếng Việt đồng âm có nghĩa trào lộng). Cả hai câu có thể dịch như sau (dịch lại câu của Lãng Nhân):
“Vua theo phép xưa, bầy tôi theo phép xưa, kính cẩn đều nhìn nhận công ơn vua Thuấn. Người trên hoà vui, người dưới hoà vui, trước hết nhờ cậy nền thịnh trị vua Nghiêu”. (Về câu trên, Nam sử lược soạn giáp khoa lục (sđd) tr.41b), cũng chép câu này, với 7 chữ cuối mỗi vế hơi khác, tuy vẫn là kiểu đùa cợt bằng cách “chơi chữ”: “... đái hàm quan Ngu Thuấn chi công... ỷ đầu lại Đường Nghiêu chi đức” (chữ Đái 帶 ghi là đai, quan 關 là cửa ải, liên lạc, chữ đái trên chắc ghi lầm. Nên sửa là 載 đội lên đầu). Giai thoại làng Nho ở cùng trang, còn chép 2 câu thơ trích ở bài chiếu về việc vua Hán gả công chúa cho Thiền Vu (chúa Hung Nô); Vũ kinh bách chiến dĩ khai đồ, Văn vô nhất thi nhi thối lỗ. Có thể dịch: “Võ từng trải trăm trận để mở mang cơ nghiệp; Văn không có được một bài thơ nhằm đánh lui quân giặc (do đó phải dùng kế mỹ nhân, gả công chúa để cầu hòa). Hai câu rất hợp với đầu đề, đối nhau rất chỉnh, ý tứ rất trang trọng, nhưng càng gây cười khi nhận thấy có sự tương phản, với ý chớt nhả của hai chữ cuối, trùng âm với hai tiếng Việt chẳng trang trọng chút nào. (Giai thoại làng Nho cho rằng mấy câu văn trên nằm trong bài thi Hương của Trạng Quỳnh, quan giám khảo khi chấm thấy hay, cho đỗ, sau kiểm điểm lại mới nhận ra lối chơi chữ ngạo mạn trong đó, nhưng bảng đỗ đã yết, không đánh hỏng được. Và sách ghi thêm 4 câu thơ Nôm tinh nghịch của Trạng khi cưỡi ngựa vinh qui về làng).
Trên đây chỉ là sơ bộ dựa vào mấy cuốn sách, thêm ít tư liệu bổ chính phần truyện Trạng Quỳnh. Nếu có điều kiện đi sâu hơn nữa, vừa sưu tầm những chuyện còn lưu hành ở vùng quê Hoằng Lộc, vừa tìm bổ sung, đối chiếu, dựa trên các sách Hán Nôm và Quốc ngữ, chắc đã có một sưu tập có giá trị về Truyện Trạng Quỳnh.
*
**
Phần 3 của tập sách, dưới nhan đề “Nghĩ về quê tổ” là một bài ký với tư liệu súc tích, lời văn sinh động hấp dẫn về đất Hoằng Bột (nay là Hoằng Lộc), quê hương của Nguyễn Quỳnh - Trạng Quỳnh, cụ nội 8 đời của tác giả Nguyễn Đức Hiền. Bài ký đã nhắc lại lịch sử lâu đời của khu đất này, từ thời thượng cổ với tên Bột Đà trang (với sự tích tên gọi này), tên Kẻ Vụt, rồi đến tên Hoằng Bột cuối triều Nguyễn và Hoằng Lộc hiện nay. Đã được giới thiệu khá đầy đủ mọi mặt: cảnh đẹp thiên nhiên, di tích đình chùa, sự tích các vị Thành hoàng, đời sống vật chất và tinh thần của dân làng. Và nổi bật là tính cách “văn hiến”, với hàng chục bậc đại khoa và trung khoa, nổi tiếng nhất có thể kể: Bùi Khắc Nhất (Bảng nhãn), Nguyễn Lại (Hoàng Giáp), Nguyễn Ngọc Huyền (Tiến sĩ) v.v. (X. tr.190-193: Nguyễn Lại được ghi là đỗ Tiến sĩ, nhưng theo Đăng khoa lục Q.3, tờ 6a, ông đỗ Hoàng giáp). Cho tới trước Cách mạng tháng 8, có “Tiến sĩ văn chương tốt nghiệp ở Pháp”, nhiều “Tú tài bản xứ” “đít lôm”, và hiện nay, toàn xã Hoằng Lộc “với con số nghìn dân, có 425 người đạt trình độ đại học và trên đại học, 14 Tiến sĩ, Phó tiến sĩ, 9 Giáo sư” (tr.232). Đất văn hiến không chỉ thấy ở những người đỗ đạt. Tác giả kể chuyện cho chúng ta về bà nội của mình, với vốn kiến thức rộng nhớ hết “mười mấy vị đại khoa trong làng” với “lai lịch từng vị” (tr.173), bà Mộc “giỏi kể chuyện”, từng “nói lỡm” kiểu Trạng Quỳnh với “quan Đốc học trên tỉnh” trong buổi về thanh tra trường làng (tr.207-209), và về chú “mõ” có “tiếng rao dóng dả ngân nga, có vần điệu như điệp khúc một bài hát cổ, và mỗi lần cung cách một khác”, khiến một quan Bố chính đi qua nghe thấy phải gọi tới hỏi chuyện và thưởng tiền (tr.199), hoặc về “chú khán đình Bảng” đã nhanh trí bày kế bắt Thượng Hà phải trở về đúng chỗ của mình trong buổi họp văn thân đầu năm (tr.200-202).
Bài ký đã thể hiện tình thương yêu và niềm tự hào của người viết đối với quê hương, và truyền được tình cảm thân thương mến phục cho người đọc. Ta thấy rõ nét cuộc sống văn hóa vô cùng phong phú trong làng xã Việt Nam, nằm trong những truyền thuyết, những giai thoại về đời sống các danh nhân, những tục lệ, những câu ca vè, tất cả những thứ đó đang cần được sưu tầm gấp rút. Làng Hoằng Lộc có thể coi như một trong những làng tiêu biểu về mặt này. Mong sao mọi làng đều có được những bài viết về quê hương như thế. Dĩ nhiên không phải làng nào cũng có được di sản văn hóa phong phú như nhau, nhưng chắc chắn mỗi làng đều có những nét riêng biệt rất đáng trân trọng và tự hào của mình.
Bên cạnh những ưu điểm rõ rệt của Nghĩ về quê tổ, có một số chỗ chưa thật ổn, cần đi sâu hơn nữa. Đơn cử mấy đoạn sau:
- Tr.178-181 nói với Nguyễn Bá Nhạ đỗ Hoàng giáp năm 18 tuổi, vì xích mích đối với Hà Duy Phiên nên phải “đi phiên trấn một vùng sơn lâm chướng khí” rồi mất ở đó. Hiện ở làng còn đền thờ với tấm biển “Tam nguyên từ”, và câu đối tương truyền là của Tự Đức: “Nhân sinh bách tuế vi kỳ, bán chi bán, lân quân mệnh bạc. Nhữ thiếu tam khôi cập đệ, kỳ cánh kỳ, sử trẫm tâm bi”.
Sách Quốc triều khoa bảng lục (Thư viện Viện Hán Nôm, ký hiệu A.37, Q1, tr.16b) cho biết Nguyễn Bá Nhạ đỗ năm Quý Mão (1843), lúc ông 22 tuổi, làm đến chức Tri phủ, có lỗi. Ghi như vậy, thường có nghĩa “do phạm lỗi, phải thôi việc”, không rõ có phải là trường hợp Nguyễn Bá Nhạ không, nhưng về tuổi thi đỗ thì không hợp với truyền thuyết địa phương. Dù sao, Nguyễn Bá Nhạ chỉ đỗ Hoàng giáp trong khoa này, đỗ đầu là Mai Anh Tuấn (Thám hoa), vậy đền thờ ông không thể có biển “Tam nguyên từ” (đền thờ vị đỗ đầu cả ba khoa thi Hương, Hội, Đình), và câu đối có mấy chữ “Tam khôi cập đệ” dĩ nhiên không hợp.
- Tr.187-188, câu đối ở nhà thờ Bùi Khắc Nhất, “chức thượng khanh tước hầu, trông coi sáu bộ, trải ba triều vua”: “Tứ thập tứ tải tuyên lao, sự kinh lục bộ; Thất thập thất niên hưởng thọ, sĩ lịch tam triều”. Nghĩa là: Bốn mươi bốn năm cai quản sáu bộ, công lao (đáng được) nêu cao; Bảy mươi bảy tuổi thờ ba triều vua, tuổi đời (đáng được) sống lâu”. Về câu đối trên, “tuyên lao” có nghĩa “làm việc hết sức mình”, không thể dịch “công lao đáng được nêu cao”; “sự kinh lục bộ” không hẳn là “cai quản lục bộ” mà chỉ có nghĩa “từng qua sáu bộ”, từng qua một trong sáu bộ (hay nhiều bộ”. Theo Đăng khoa lục (Q.2, tr.46b), Bùi Khắc Nhất “làm quan đến Hộ bộ Thượng thư, vinh phong Kiệt tiết tuyên lực, Hiệp mưu tá lý công thần”. Đề nghị tạm dịch sửa lại cho sát nghĩa hơn: “Bốn mươi bốn năm gắng hết sức mình, việc qua sáu bộ; bảy mươi bảy xuân vui hưởng tuổi thọ, quan trải ba triều”.
*
**
Để kết luận có thể nói sách Trạng Quỳnh tuy đứng tên hai người biên soạn, nhưng phần đóng góp trội hơn do Nguyễn Đức Hiền, người đã phát hiện gia phả và nhờ Gs. Hà Văn Tấn nghiên cứu giới thiệu. Đây có thể coi như một hiến phẩm của nhà văn này dâng lên vị tổ tám đời là Cống Quỳnh, và quê hương Hoằng Lộc đã sản sinh nhiều nhân vật được ghi tên trong sử sách. Cuốn sách đã cung cấp nhiều tư liệu quý về tiểu sử và tác phẩm của Nguyễn Quỳnh và quê hương ông, khẳng định mối liên hệ giữa Cống Quỳnh và Trạng Quỳnh trong truyền thuyết, đồng thời tập hợp tương đối đầy đủ những chuyện kể đầy tính hài hước, chĩa mũi nhọn vào bọn vua chúa quan lại, kể cả thần linh, được dân chúng truyền lại qua bao nhiêu đời. Một số nhận xét trong bài này chỉ nhằm đóng góp thêm tư liệu, mong giúp công trình biên soạn về Cống Quỳnh-Trạng Quỳnh được hoàn chỉnh hơn./.
Người biên tập: Hoàng Văn Lâu

TB







VÀI Ý KIẾN NHỎ VỀ BÀI "BÀN VỀ MỘT CHỮ TRONG BÀI THƠ CỔ"





VÀI Ý KIẾN NHỎ VỀ BÀI "BÀN VỀ MỘT CHỮ TRONG BÀI THƠ CỔ"
Tạp chí Hán Nôm số 4 - 1995 có bài: Bàn về một chữ trong bài thơ cổ của tác giả Hoàng Tiến. Tôi xin có một số ý kiến trao đổi với tác giả như sau:
Tác giả Hoàng Tiến đã có sự ngộ nhận khi cho 4 câu thơ:
Xuân du phương thảo địa,
Hạ thưởng lục hà trì.
Thu ẩm hoàng hoa tửu,
Đông ngâm bạch tuyết thi.
Là “một bài thơ không biết từ đời nào chỉ có 4 câu, nói về bốn mùa bằng chữ Hán, thường được truyền tụng trong lớp người yêu thích văn chương ở ta”.
Thực ra, theo thiển ý, 4 câu thơ trên không hẳn nói về một mùa một cách chung chung, mà ca tụng những cái thú thanh tao của kẻ sĩ thời xưa. Ta hãy xem lại phần dịch nghĩa:
Mùa xuân dạo chơi trên bãi cỏ thơm,
Mùa hạ thưởng ngoạn ao sen xanh biếc.
Mùa thu uống rượu hoa cúc vàng,
Mùa đông ngâm thơ tuyết trắng.
Bốn câu thơ mà tác giả Hoàng Tiến đã dẫn không phải là một bài thơ riêng rẽ, mà nó nằm trong một tác phẩm thơ năm chữ loại trường thiên, dùng cho học sinh xưa ở bậc ấu học. Tên quyển sách đó là ấu học ngũ ngôn thi, không ghi tên tác giả. Quyển thơ đó còn đưộc gọi là Trạng nguyên thi. Lúc còn nhỏ, tôi đã có dịp đọc nó. Tôi còn nhớ quyển sách bắt đầu bằng 4 câu thơ như sau:
Thiên tử trọng hiền hào,
Văn chương giáo nhĩ tào.
Song tiền cần khổ học,
Duy hữu độc thư cao.
có nghĩa:
Vua trọng người hiền hào,
Văn chương dạy dỗ bọn các anh.
Trước cửa sổ, nên siêng năng gian khổ học,
Vì chỉ có đọc sách là cao quý nhất.
Nhân sinh quan này là tư tưởng chủ đạo trong thời nho học thịnh hành; Nhưng thực tế xã hội xưa không cho phép áp đặt chung cho tất cả mọi người, vì chỉ có một số giai tầng nào có điều kiện dùi mài kinh sử. Thế cho nên trong dân gian mới có câu: “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ” để phản bác lại.
Bốn câu thơ trên ở vào gần cuối quyển sách, sau đoạn nói về cảnh quan Trạng được Vua ban áo mũ, cưỡi ngựa đi dạo chơi ở Kinh kỳ. Về đoạn này, tôi còn nhớ những câu như:
"Hoa cù hồng phấn nữ,
Tranh khán lục y lang."
Có nghĩa:
Đường hoa các cô gái đánh phấn hồng,
Tranh nhau xem mặt chàng mặc áo xanh.
Hồi xưa, khi học trò mới tập làm câu đối, thầy đồ chọn vế ra bằng câu chữ có sẵn trong sách, học trò đối lại cũng phải tìm câu chữ trong các sách đã học, không được phép tự mình sáng tác ra vế đối lại. Có lần, tôi đã được thầy đồ ra câu “Tường đầu hoa ảnh động” (ở đầu tường bóng hoa lay động), tôi đã đối lại “Mã thượng cẩm y hồi” (Ngồi trên mình ngựa, mặc áo gấm ra về). Cả 2 vế ra và vế đối lại đều ở trong Ấu học ngũ ngôn thi trong 2 đoạn khác nhau. Đối như thế mới coi là trúng cách.
Tôi dẫn chứng như trên, để bạn đọc thấy quyển sách khuyến học này có nhiều câu lời hay ý đẹp. Chỉ tiếc không biết tác giả nó là ai! Có thể, theo thiển ý, quyển sách này do một tác giả Việt Nam viết, tuy nó có đề cập tới “bạch tuyết thi”. Nói cho đúng, Việt Nam cũng có tuyết ở Chapa tuy không nhiều. Cách đây khoảng 10 năm, có một lần tuyết xuống ở Chapa dày tới một nửa mét. Còn ở đỉnh Phăng-xi-păng thì năm nào rét nhiều, tuyết thường phủ trắng ngọn núi. Tuy nhiên, vấn đề này không phải ở chỗ đó bởi vì đúng như tác giả Hoàng Tiến đã nói “Nó mang tính ước lệ trong thủ pháp miêu tả nghệ thuật” có từ lâu đời. Có khách văn chương chưa nếm rượu hoa cúc, chưa nhìn thấy tuyết, nhưng vẫn ca tụng trong thơ văn của mình. Hoa mẫu đơn của Trung Quốc là một loại hoa to, màu sắc đẹp. Có người thấy thi nhân Trung Quốc cho hoa mẫu đơn là tiên của các loài hoa, cũng bắt chước ca tụng hoa mẫu đơn. Người đọc chỉ biết hoa mẫu đơn của Việt Nam là một loại hoa chùm, mọc nhiều ở các đồi núi vùng trung du. ở đồng bằng, người ta cũng trồng để lấy hoa bày bàn thờ cho đẹp vì hoa có màu đỏ tươi (có nơi gọi là hoa trang).
Một lẽ nữa khiến tôi nghĩ quyển thơ do một tác giả khuyết danh của Việt Nam làm vì tôi chỉ thấy nó được bày bán ở phố Hàng Gai Hà Nội, hồi đầu thế kỷ XX cùng với những quyển như Sơ học vấn tân, Nhất thiên tự.. .mà tuyệt nhiên không thấy bán ở các cửa hàng bán sách của những người Tàu ở chợ Lớn - Sài Gòn trước đây.
Còn về ý ông Hoàng Tiến muốn đổi “Xuân du phương thảo địa”thành “Xuân du thanh thảo địa”, thiết nghĩ không nên. Theo phép đối, hương đối với sắc là rất trội, nhiều khi còn hay hơn sắc đối với sắc, hương đối với hương. Ta hãy xem lại cách đối của cụTam NguyênYên Đổ:
Bài Thu vịnh:

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Cụ Nguyễn Khuyến đã đối “hoa” với “ngỗng”.
Bài Vịnh Tiến sĩ giấy:
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,
Cái giá khoa danh ấy mới hời.
Tấm thân xiêm áo đã được đối với cái giá khoa danh. Đối như thế đã không ai chê trách, mà còn được khen là đằng khác!(1).
Người biên tập: Nguyễn Ngọc Nhuận
CHÚ THÍCH
(1) Trong một chuyến đi công tác địa phương (huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Hưng), chúng tôi thấy 4 câu thơ “Xuân du phương thảo địa...” được khắc trên một chậu cảnh làm bằng đá. Vậy nhân đây xin giới thiệu bản rập của chúng tôi về mấy câu thơ đó, để bạn đọc cùng tham khảo. (Nguyễn Ngọc Nhuận).

TB