Thursday, February 29, 1996

MẤY NHẬN XÉT VỀ VIỆC PHIÊN ÂM VÀ KHẢO ĐÍNH NHỊ ĐỘ MAI





MẤY NHẬN XÉT VỀ VIỆC PHIÊN ÂM VÀ KHẢO ĐÍNH NHỊ ĐỘ MAI
Trong các truyện Nôm của ta, ngoài những quyển như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự (Nguyễn Thiện nhuận sắc), Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu... còn có những quyển tuy văn chương không được đặc sắc bằng nhưng cũng đáng kể là có giá trị như Phan Trần, Bích câu kỳ ngộ, Quan Âm Thị Kính, Nhị Độ Mai, Thạch Sanh, Phạm Công Cúc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Phương Hoa, Nữ tú tài...
Các tác phẩm này đều khuyết danh và cũng không biết đã được viết ra vào năm nào, chỉ được phổ cập trong giới bình dân nên khi phiên âm sang chữ Quốc ngữ cũng không có ai in lại bản Nôm, kể cả mấy quyển có giá trị như Phan Trần, Bích câu kỳ ngộ, Nhị độ mai...
Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ xin nói về quyển Nhị Độ Mai.
*
Truyện Nhị độ mai có nhiều bản bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ.
Bằng chữ Nôm có những bản in của các nhà Quan Văn đường, Phúc Văn đường, Tạ Văn đường, Đồng Văn đường, Quảng Thịnh hiệu...
Bằng chữ Quốc ngữ có các bản của nhà sách ích Ký ở Hà Nội (1920), nhà in Văn Minh ở Hải Phòng (1922), nhà in Kim Khuê ở Hải Phòng (1924), nhà in Ngô Tử Hạ ở Hà Nội (1926), nhà xuất bản Ngày Mai ở Hà Nội (1949), nhà xuất bản Tân Việt ở Sài Gòn (1952), nhà xuất bản Phổ Thông ở Hà Nội (1957), nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp ở Hà Nội (1988)...
Tất cả các bản ấy đều có những chỗ khác nhau: có khi là một chữ, có khi là một đoạn mấy chữ, có khi là một câu, có khi là một đoạn mấy câu.
Chính vì lẽ ấy mà năm 1972, nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội đã cho in quyển Nhị độ mai do Hoàng Ngọc Phách và Lê Trí Viễn khảo luận, chú thích và hiệu đính căn cứ vào 5 bản:
A- Bản chữ Nôm của Quan Văn đường
B- Bản của nhà in Ngô Tử Hạ.
C- Bản của nhà xuất bản Ngày Mai.
D- Bản của nhà xuất bản Tân Việt.
E- Bản của nhà xuất bản Phổ thông.
Theo Lời nói đầu của quyển Nhị độ mai thì hai soạn giả đã lấy bản chữ Nôm, Quan Văn đường là bản cũ hơn cả làm bản chính rồi đem so sánh với bản B-C-D-E để làm Khảo dị.
Nhưng chúng tôi không khỏi thắc mắc khi thấy từ câu 1 đến câu 2820, không có một câu nào ghi của bản A khác với bốn bản Quốc ngữ B-C-D-E mà chỉ thấy ghi bản B khác với bản C hoặc bản D và E.
Chẳng lẽ hai soạn giả đã không có bản Nôm Quan Văn đường để làm Khảo dị mà chỉ ghi cho có hình thức thôi nên đã ghi không đúng cả tên sách.
Thay vì phải ghi: “Nhuận chính trung hiếu tiết nghĩa Nhị Độ Mai truyện. Thành Thái Đinh Mùi xuân Quan Văn đường tàng bản”, đã ghi vắn tắt là: “Nhị độ mai (bản in gỗ) Quan Văn đường tàng bản - Hà Nội - 1907”.
Do sự ngờ vực ấy, chúng tôi đã lấy bản “Nhuận chính Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai truyện” của Quan Văn đường ra để đối chiếu lại thì thấy có nhiều chữ khác với các bản Quốc ngữ B-C-D-E và có nhiều chữ các bản Quốc ngữ đã phiên âm sai hoặc đã in sai rồi cứ sao chép lẫn của nhau mà nhân lên các sai lầm.
Chúng tôi xin đưa ra một số thí dụ để dẫn chứng như sau:
I- Những chữ bản A khác với các bản B-C-D-E.
Số chữ bản A khác với các bản B-C-D-E thì rất nhiều, chúng tôi chỉ xin liệt kê ra một số thí dụ như sau:
Câu 18:
A: Nhà Đường truyền đến là đời Đức Tông.
B-C-D-E: Nhà Đường truyền vị đến đời Đức Tông.
A: Tơ kia nghĩ phải duyên trời.
B-C-D-E: Tơ kia đã phải duyên trời.
Câu 50:
A: Uốn lưng khuất gối cũng nhơ một đời.
B-C-D-E: Uốn lưng co gối cũng nhơ một đời.
Câu 75:
A: Cũng đừng theo gót lôi thôi.
B-C-D-E: Cũng đừng bịn rịn lôi thôi.
Câu 93:
A: đàn, phượng độc chắc đâu.
B-C-D-E: Sẻ đàn, phượng độc chắc đâu.
Câu 107:
A: Chẳng sai hổ phụ lân nhi.
B-C-D-E: Mới hay hổ phụ lân nhi.
Câu 142:
A: Gọi là ngày gió ngày mưa theo hầu.
B-C-D-E: Gọi là ngày gió ngày mưa đi hầu.
Câu 158:
A: Thỏa lòng hồ thỉ, rỡ mình đai cân.
B-C-D-E: Thỏa lòng hồ thỉ, phỉ tình đai cân.
Câu 192:
A: Mà lòng tạc đá ghi vàng dám sai.
B-C-D-E: Mà lòng tạc đá ghi vàng không sai.
Câu 212:
A: Trông theo đã khuất dâu xanh mấy trùng.
B-C-D-E: Trông theo đã khuất mây xanh mấy trùng.
Câu 434:
A: Vua Đường rằng: “Mới tin ngoài lại tâu”.
B-C-D-E: Đường Hoàng rằng: “Mới tin ngoài lại tâu”.
Câu 534:
A: Tôi đương nạn ấy, người tìm lánh xa.
B-C-D-E: Tôi đương nạn ấy, người tìm nẻo xa.
Câu 717:
A: Trông hoa lại khấn mấy lời.
B-C-D-E: Trông hoa lại nhớ mấy lời.
II- Những chữ các bản Quốc ngữ B-C-D-E phiên âm sai hoặc sao chép sai so với bản A.
Số chữ các bản Quốc ngữ B-C-D-E sao chép sai do phiên âm sai cũng nhiều. Chúng tôi chỉ xin liệt kê ra đây một số thí dụ như sau:
Câu 263:
A: Bách quân đông chật sân phong.
Hai chữ 冬 秩 (đông chật) đã được phiên âm sai thành đóng chặt ở các bản B-C-D-E. Chữ đông viết Nôm là 凍 hoặc @.
Câu 297:
A: Ta đây vốn chẳng cầu chi.
Chữ 求 (cầu) đã bị sao chép hoặc in sai thành cần vì chữ u và chữ n viết dễ lẫn với nhau. Nếu viết theo chữ Nôm hoặc chữ Hán thì chữ 求 (cầu) có tự dạng khác hẳn với chữ 勤 (cần) không thể lầm lẫn được.
Câu 639:
A: Tiểu đây kẻ khéo có thừa.
Chữ 丗 (kẻ) đã bị sao chép hoặc in sai thành chữ kể vì “ẻ” và “ể” chỉ khác nhau có dấu “Ù”. Nếu viết theo chữ Nôm thì chữ 丗 (kẻ) có tự dạng khác hẳn với chữ 計 (kể).
Câu 697:
A: Một vườn cảnh vật tiêm tân.
Chữ 尖 (tiêm) đã bị sao chép hoặc in sai thành tiên vì chữ “m” dễ viết lầm thành “n”. Nếu viết theo chữ Hán thì chữ 尖 (tiêm) có tự dạng khác hẳn với chữ 鮮 (tiên). Tiêm tân có nghĩa là tươi tốt đẹp đẽ ( Tiêm: tốt đẹp).
Câu 1010:
A: Ngắm xem phong cảnh bốn bên lưng chừng.
Chữ 裈 (ngắm) đã bị sao chép hoặc in sai thành ngẫm vì chữ “ắ” và chữ “ẫ” viết dễ lầm lẫn với nhau. Nếu viết theo chữ Nôm thì chữ 裈 (ngắm) có tự dạng khác hẳn với chữ 吟 (ngẫm). ở câu này chữ “ngắm” thích hợp hơn: Ngắm xem phong cảnh.
Câu 1090:
A: Sương đằm cỏ áy, gió reo cây già.
Chữ 潭 (đằm) đã bị sao chép sai thành soi. Nếu viết theo chữ Nôm thì chữ 芁 (soi) so tự dạng khác hẳn. Chữ “đằm” ở câu này mới có nghĩa.
Câu 1139:
A: Son vàng mặt khám tay ngai.
Chữ 龕 (khám) đã bị sao chép hoặc in sai thành khảm vì dấu “ ’ ” và dấu “?” dễ bị lầm lẫn. Nếu viết theo chữ Hán và chữ Nôm thì chữ 龕 (khám) và 坎 (khảm) có tự dạng khác hẳn nhau, không thể lầm lẫn được.
Câu1496:
A: Mẽ hình tú hộ khác tuồng ngư gia. Chữ 戶 (hộ) đã bị sao chép hoặc in sai thành bộ vì chữ “h” và chữ “b” dễ bị lầm lẫn. Tú hộ là cửa nhà sang trọng đẹp đẽ, chỉ nhà giàu có.
Các bản B-C-D-E đều chép là Mai hình tú bộ khác phương ngư gia.
Bản Văn học (1972) đã chú thích Mai hình tú bộ là thân hình manh mảnh như cây mai, gót đẹp như thêu gấm, ý tả người con gái tuyệt đẹp.
Giảng như vậy thì sai vì đã phiên âm không đúng với bản chữ Nôm.
Nếu phiên âm đúng với bản chữ Nôm:
Mẽ hình tú hộ khác tuồng ngư gia thì câu thơ ấy có nghĩa là: “vẻ người rõ là con nhà sang trọng quyền quí khác với những hạng tầm thường con nhà chài lưới. Hai chữ “tú hộ” là đặt đối với hai chữ “ngư gia”. Ngoài ra chữ 惥 (mẽ) không thể đọc là mai được. Chữ 梅 (mai) viết khác hẳn và là chữ Hán chứ không phải là chữ Nôm.
Câu 1746:
A: Bên giường triện bách, trước bình phòng lan.
Chữ 房 (phòng) đã bị sao chép hoặc in sai thành phong vì chỉ khác nhau có một cái dấu huyền “ ` ”. Câu này được đặt theo tiểu đối: “bên giường” đối với “trước bình”, “triện bách” (bàn nhỏ bằng gỗ bách) đối với “phòng lan” (phòng đọc sách) chữ phong (風) viết khác hẳn với chữ phòng.
Câu 1789:
A: Phu nhân những hậu vì tình.
Chữ 厚 (hậu) đã bị sao chép hoặc in sai thành hận, vì chữ “u” và chữ “n” viết dễ lẫn chữ nọ ra chữ kia. Nếu viết chữ Nôm thì chữ 恨 (hận) có tự dạng khác hẳn với chữ hậu.
Ở câu này phải dùng chữ “hậu” mới có nghĩa và mới đi với câu dưới: Mời thầy thuốc, cắt đồng sinh giữ gìn. Nếu đã “hận vì tình” thì không khi nào lại cư xử tốt như vậy.
Câu 2344:
A: Thiên văn khảo đến, một hai tra cùng.
Chữ 查 (tra) đã bị sao chép sai hoặc in thành cho.
Ở câu này chữ “tra” mới có nghĩa vì được đặt đối với chữ “khảo” ở trên. Cả câu cũng được đặt theo phép tiểu đối:
Thiên văn khảo đến, một hai tra cùng.
Hai bản D-E chép là: Đại nhân xin xét một hai cho cùng thì không đúng với bản Nôm.
Câu 2369:
A: Buổi chầu vừa rạng ngày mai.
Chữ 朝 có thể đọc là triều, chầu hoặc chiều. Ở đây phải đọc là chầu mới đúng nghĩa. Bản của nhà xuất bản Tân Việt chép là “triều” thì cũng được, nhưng bản của nhà xuất bản Văn học (1972) và bản của nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1988) chép là “chiều” thì đều sai.
Trong Truyện Nhị độ mai còn có câu 433 cũng viết y như câu 2369 là:
Buổi chầu vừa rạng ngày mai.
Tất cả các bản Quốc ngữ đều phiên âm như vậy.
Câu 2454:
A: Đèn gần chong sáp, đỉnh xa bay trầm.
Câu này bản của nhà xuất bản Văn học và bản của nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã chép sai là:
Đèn gần chong sáng, đỉnh xa bay trầm. Bản Tân Việt chép đúng với bản Nôm. ở câu này chữ sáp được đặt đối với chữ trầm.
Câu 2763:
A: Xin làm ngọc xuyến kim thoa.
Chữ 釵 (thoa) đã bị sao chép hoặc in sai thành hoa. Bản của nhà xuất bản Văn học còn chú thích Ngọc xuyến kim hoa là xuyến ngọc hoa vàng thì sự sai lầm này lại càng rõ ràng. ở đây phải chép là kim thoa tức cái thoa vàng mới đúng.
III- Những bài thơ Đường của các nhân vật trong truyện
Hầu hết các bản Nhị độ mai xuất bản trước đây đều có những bài thơ Đường luật (thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt) của các nhân vật trong truyện. Các bài thơ ấy, ở các bản Nôm, được chép phụ thêm ở tầng trên cùng, còn ở các bản Quốc ngữ thì được chép ở phần chú thích.
Quyển Nhị độ mai của Quan Văn đường tàng bản có chép cả các bài thơ bằng chữ Hán trích từ truyện Nhị độ mai của Trung Quốc kèm theo bài diễn âm.
Quyển Nhị độ mai của nhà xuất bản Văn học có chép lại một số các bài thơ diễn âm ấy nhưng đã không đúng theo đúng với bản Quan Văn đường mà chép theo bản Tân Việt.
Vì là phần phụ nên chúng tôi chỉ nêu ra một hai thí dụ như sau:
1- Về sự khác biệt giữa hai văn bản:
Thơ của Trần Xuân Sinh (sau câu 784):
Bản Nôm Quan Văn đường chép là:
Mấy đóa hoa mai bóng dễ gần,
Hương đâu sực nức một vườn xuân.
Chứng lòng trời khiến hoa kia nở,
Xưa một lần thơm lại một lần.
Bản Tân Việt và bản Văn học chép là:
Mấy sắc mai hoa bóng dễ gần,
Khác chi hớn hở một nhà xuân.
Chứng cho trời khiến hoa kia nở,
Xưa một lần nay lại một lần.
2- Về sự sao chép hoặc phiên âm sai.
Thơ của Hạnh Nguyên làm (sau câu 790):
Bản Nôm Quan Văn đường chép là:
Trời chửa dứt dòng trung nghĩa ấy,
Nên cho hoa lại nở hai lần.
Bản Tân Việt và bản Văn học chép là:
Trời chớ dứt lòng trung nghĩa ấy.
Nên cho hoa lại nở hai lần.
Chép như vậy thì sai vì chữ Nôm viết: 俼 荘 瀭 匇 phải phiên là: trời chửa dứt dòng mới đúng nghĩa. Dòng đây là dòng họ, dòng dõi. Cả câu ý nói: “Trời chửa dứt dòng dõi nhà họ Mai nên Hỉ Đồng - tức Mai Lương Ngọc vẫn còn sống sót. Chữ 荘 nếu phiên âm là “chớ” thì cũng sai vì không hợp ý của câu thơ.
*
Qua ba phần trình bày ở trên chúng tôi mới chỉ nêu ra được một số sai lầm của bản Văn học in năm 1972.
Cho tới nay, hầu hết các bản Quốc ngữ đều không có phần khảo dị và có thể nói là các bản Quốc ngữ in ra về sau đều cứ bản nọ sao chép lại của bản kia chứ không có đối chiếu với các bản Nôm để hiệu đính hoặc phiên âm từ các bản Nôm. Chính vì lẽ đó mà các sai lầm - như chúng tôi đã trình bày ở trên - càng trở thành phổ biến.
Đến năm 1988, nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp lại cho in quyển Nhị độ mai do Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích (sau được nhà xuất bản Văn học cho tái bản năm 1994) nhưng vẫn còn các lỗi như trên tuy - theo lời nhà xuất bản - có tham khảo thêm bản Nôm năm Tự Đức, Bính Tý..
Thật cũng là một điều đáng tiếc.
Vậy để kết luận cho bài viết này, chúng tôi cho rằng việc phiên âm, khảo đính và chú thích các truyện Nôm cổ - nhất là các tác phẩm khuyết danh như truyện Nhị độ mai - cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc hơn cũng như chúng ta đã làm với các tác phẩm của Nguyễn Du (Truyện Kiều), Nguyễn Huy Tự (Hoa tiên), Nguyễn Đình Chiểu (Lục Vân Tiên), Đoàn Thị Điểm (bản dịch Chinh phụ ngâm) v.v...
Người biên tập: Trần Nghĩa

TB







No comments:

Post a Comment