NGUYỄN QUỲNH VÀ TRẠNG QUỲNH
Một hiện tượng khá lý thú của văn học dân gian nước ta là sự pha
trộn trong nhiều trường hợp yếu tố truyền thuyết, thường đượm thêm màu
sắc thần kỳ.Truyện được kể lại với người và việc có thật trong lịch sử,
nơi diễn ra những sự kiện vẫn còn lưu lại những tên gọi ở địa phương. Đó
là chứng tích được coi như bảo đảm tính xác thực của câu chuyện. Đời
Lý, Bà Tấm được đồng nhất với thái hậu ỷ Lan, quê ở xã Dương Quang,
huyện Gia Lâm; còn truyền lại bài ca sự tích Tấm Cám, với những địa điểm
đã diễn ra những sự kiện. Cuối triều Lê, có Trạng Quỳnh, nhân vật
truyền thuyết được tạo dựng dựa trên một nhân vật lịch sử: Cống Quỳnh
tức Nguyễn Quỳnh. Sách Trạng Quỳnh (Nguyễn Đức Hiền sưu tầm,
biên soạn, Hà Văn Tấn giới thiệu gia phả, dịch văn; Nxb. Văn học, Nxb.
Thanh Hóa, 1987) ra mắt bạn đọc gần đây đã được đặc biệt chú ý, vì không
những nó tập hợp được gần như toàn bộ những câu chuyện kể về nhân vật
truyền thuyết Trạng Quỳnh, mà còn lần đầu tiên công bố trên sách nhiều
tư liệu về đời sống, quê hương, sự nghiệp văn học của Cống Quỳnh, cho
phép hiểu rõ thêm về nhân vật lịch sử này, đã là khởi điểm cho việc hình
thành nhân vật truyền thuyết Trạng Quỳnh nổi tiếng trong văn học dân
gian. Cuốn sách có 3 phần chính. Phần đầu có thể coi như dành cho nhân
vật lịch sử Nguyễn Quỳnh tức Cống Quỳnh, do Giáo sư Hà Văn Tấn viết,
giới thiệu gia phả, dịch và chú thích. Phần 2 tập hợp những câu chuyện
(40 mục) về Trạng Quỳnh. Phần 3 là bài ký về làng Bột Thượng, quê Nguyễn
Quỳnh, được địa phương đồng nhất với Trạng Quỳnh và là ông tổ 8 đời của
người viết, nhà văn Nguyễn Đức Hiền. Cuốn sách còn thêm phần hấp dẫn do
được kèm theo mấy bức ảnh về bút tích gia phả, nhà thờ đại tông họ
Nguyễn và nhà thờ riêng của Nguyễn Quỳnh (Phần 1), cùng những minh hoạ
do ngọn bút tài hoa của nhà họa sĩ lão thành Mạnh Quỳnh, không ký tên
đầy đủ, nhưng ký hiệu MQ thành hình con chuột (M là đội tai chuột, Q là
thân chuột với cái đuôi) đã rất quen thuộc với công chúng. Nhất là giới
bạn đọc nhỏ tuổi, từ những năm 40 trước Cách mạng (Phần 2).
Phần đầu phân tích gia phả cho thấy Nguyễn Quỳnh sinh năm1677. Ông vốn rất thông minh, từ nhỏ được theo học, 20 tuổi (1696) đỗ Giải nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hương). Ông thi Hội nhiều lần không đỗ, từng làm Huấn đạo phủ Phụng Thiên. Năm1718, trúng tuyển khoa Sĩ vọng, được bổ Tri phủ phủ Thái Bình, một thời gian ngắn lại quay về Kinh đô, làm Viên ngoại lang bộ Lễ, sau chuyển sang chức Tu soạn toà Hàn lâm, sống ở Thăng Long cho đến cuối đời. Sách cho biết Nguyễn Quỳnh có tài văn học. Dân gian lưu truyền câu “Nguyễn Quỳnh Nguyễn Nham, thiên hạ vô tam” (Nguyễn Quỳnh Nguyễn Nham, dưới gầm trời không có người thứ ba sánh được). Nguyễn Nham hơn ông một tuổi, từng đỗ Tiến sĩ năm 1715, ba năm sau được cử chấm khoa thi Sĩ Vọng và đã lấy ông đỗ. Thế mà ông được xếp ngang hàng, đủ biết tài văn học của ông được người đương thời đánh giá cao. Tuy nhiên cuộc đời làm quan của ông không thật thanh thản, nhất là về đoạn cuối, từ chức Viên ngoại lang (tòng lục phẩm) chuyển làm Tu soạn tòa Hàn lâm (chính bát phẩm), bị tụt xuống 3 bậc. Theo Hà Văn Tấn “Rõ ràng ông bị biếm truất. Thời đó việc biếm truất đều do chúa Trịnh quyết định. Hẳn ông đã có những việc làm hay lời nói trái ý chúa”. (tr.15). Và tác giả khẳng định: “Cống Quỳnh hoàn toàn có đủ tư cách để trở thành khởi hình lịch sử của Trạng Quỳnh dân gian (tr.24). Sau phần phân tích gia phả, sách đã dịch 7 bài văn của Nguyễn Quỳnh còn được chép trong đó, và phiên âm kèm bản dịch cũng theo thể phú 2 bài phú chữ Hán của ông được chép trong Lịch triều danh phú: phú Kim bạch tài vật (vàng lụa của cải), và phú Tần cung phụ nữ (phụ nữ cung tần). Bài trên tả kho chứa của cải vàng lụa của nhà Tần, chê nhà Tần tham lam ngu ngốc chỉ biết thu gom tài sản, làm mất lòng dân, dẫn đến sự thất bại sụp đổ nhanh chóng. Bài thứ 2 nói về cung nữ của nhà Tần (được tập trung khá đông ở cung A Phòng nổi tiếng. Lưu Bang sau khi diệt nhà Tần đã theo lời khuyên của Tiêu Hà, không đụng chạm đến cung tần mỹ nữ. Cả 2 bài tuy chủ đề nói nhà Tân nhưng cốt đề cao thái độ đứng đắn không tham sắc tham tài của Lưu Bang, vua sáng lập nhà Hán. Hà Văn Tấn nhận xét: “Cả hai bài đều hay, đều tài tình. Người xưa coi là “danh phú” quả không sai và nhận định “vị trí của Nguyễn Quỳnh trong lịch sử văn học cần được đánh giá khác trước”.
Về nhân vật lịch sử Nguyễn Quỳnh, cho đến nay đã có khá nhiều tư liệu nói tới và khẳng định mối liên hệ với nhân vật truyền thuyết Trạng Quỳnh. Bên cạnh nhiều sách chữ Hán (chép tay), có thể mấy cuốn tiếng việt gần đây như Giai thoại văn học Việt Nam của Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch (Hà Nội 1965), Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (Sài Gòn 1966), Bộ Đại Nam nhất thống chí thời Tự Đức (Bản dịch, Nxb. KHXH, tập 2, 1970) phần tỉnh Thanh Hóa, mục nhân vật ghi tên Nguyễn Quỳnh, chép có chỗ không khớp với gia phả, như “Đầu đời Cảnh Hưng đỗ Hương tiến”, “không thích ra làm quan, giễu cợt khinh đời nhưng cho biết “văn học uẩn súc… phóng túng tự do, càng thích hài hước. Như vậy sách Trạng Quỳnh lần đầu tiên đã dựa vào gia phả cho biết nhiều chi tiết về đời sống Nguyễn Quỳnh, xác định năm sinh năm mất,và nhất là sưu tầm phiên dịch những sáng tác văn học của ông, trong gia phả, trong Lịch triều danh phú.
Về những bài văn trích từ gia phả và hai bài phú (trích từ Lịch triều danh phú trong Tạp chí Hán Nôm số 2 (11) 1991 đã có bài của Tảo Trang “Mấy sáng tác của nhag văn học Nguyễn Quỳnh” nên xin được miễn bàn thêm.
Phần đầu phân tích gia phả cho thấy Nguyễn Quỳnh sinh năm1677. Ông vốn rất thông minh, từ nhỏ được theo học, 20 tuổi (1696) đỗ Giải nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hương). Ông thi Hội nhiều lần không đỗ, từng làm Huấn đạo phủ Phụng Thiên. Năm1718, trúng tuyển khoa Sĩ vọng, được bổ Tri phủ phủ Thái Bình, một thời gian ngắn lại quay về Kinh đô, làm Viên ngoại lang bộ Lễ, sau chuyển sang chức Tu soạn toà Hàn lâm, sống ở Thăng Long cho đến cuối đời. Sách cho biết Nguyễn Quỳnh có tài văn học. Dân gian lưu truyền câu “Nguyễn Quỳnh Nguyễn Nham, thiên hạ vô tam” (Nguyễn Quỳnh Nguyễn Nham, dưới gầm trời không có người thứ ba sánh được). Nguyễn Nham hơn ông một tuổi, từng đỗ Tiến sĩ năm 1715, ba năm sau được cử chấm khoa thi Sĩ Vọng và đã lấy ông đỗ. Thế mà ông được xếp ngang hàng, đủ biết tài văn học của ông được người đương thời đánh giá cao. Tuy nhiên cuộc đời làm quan của ông không thật thanh thản, nhất là về đoạn cuối, từ chức Viên ngoại lang (tòng lục phẩm) chuyển làm Tu soạn tòa Hàn lâm (chính bát phẩm), bị tụt xuống 3 bậc. Theo Hà Văn Tấn “Rõ ràng ông bị biếm truất. Thời đó việc biếm truất đều do chúa Trịnh quyết định. Hẳn ông đã có những việc làm hay lời nói trái ý chúa”. (tr.15). Và tác giả khẳng định: “Cống Quỳnh hoàn toàn có đủ tư cách để trở thành khởi hình lịch sử của Trạng Quỳnh dân gian (tr.24). Sau phần phân tích gia phả, sách đã dịch 7 bài văn của Nguyễn Quỳnh còn được chép trong đó, và phiên âm kèm bản dịch cũng theo thể phú 2 bài phú chữ Hán của ông được chép trong Lịch triều danh phú: phú Kim bạch tài vật (vàng lụa của cải), và phú Tần cung phụ nữ (phụ nữ cung tần). Bài trên tả kho chứa của cải vàng lụa của nhà Tần, chê nhà Tần tham lam ngu ngốc chỉ biết thu gom tài sản, làm mất lòng dân, dẫn đến sự thất bại sụp đổ nhanh chóng. Bài thứ 2 nói về cung nữ của nhà Tần (được tập trung khá đông ở cung A Phòng nổi tiếng. Lưu Bang sau khi diệt nhà Tần đã theo lời khuyên của Tiêu Hà, không đụng chạm đến cung tần mỹ nữ. Cả 2 bài tuy chủ đề nói nhà Tân nhưng cốt đề cao thái độ đứng đắn không tham sắc tham tài của Lưu Bang, vua sáng lập nhà Hán. Hà Văn Tấn nhận xét: “Cả hai bài đều hay, đều tài tình. Người xưa coi là “danh phú” quả không sai và nhận định “vị trí của Nguyễn Quỳnh trong lịch sử văn học cần được đánh giá khác trước”.
Về nhân vật lịch sử Nguyễn Quỳnh, cho đến nay đã có khá nhiều tư liệu nói tới và khẳng định mối liên hệ với nhân vật truyền thuyết Trạng Quỳnh. Bên cạnh nhiều sách chữ Hán (chép tay), có thể mấy cuốn tiếng việt gần đây như Giai thoại văn học Việt Nam của Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch (Hà Nội 1965), Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (Sài Gòn 1966), Bộ Đại Nam nhất thống chí thời Tự Đức (Bản dịch, Nxb. KHXH, tập 2, 1970) phần tỉnh Thanh Hóa, mục nhân vật ghi tên Nguyễn Quỳnh, chép có chỗ không khớp với gia phả, như “Đầu đời Cảnh Hưng đỗ Hương tiến”, “không thích ra làm quan, giễu cợt khinh đời nhưng cho biết “văn học uẩn súc… phóng túng tự do, càng thích hài hước. Như vậy sách Trạng Quỳnh lần đầu tiên đã dựa vào gia phả cho biết nhiều chi tiết về đời sống Nguyễn Quỳnh, xác định năm sinh năm mất,và nhất là sưu tầm phiên dịch những sáng tác văn học của ông, trong gia phả, trong Lịch triều danh phú.
Về những bài văn trích từ gia phả và hai bài phú (trích từ Lịch triều danh phú trong Tạp chí Hán Nôm số 2 (11) 1991 đã có bài của Tảo Trang “Mấy sáng tác của nhag văn học Nguyễn Quỳnh” nên xin được miễn bàn thêm.
*
Phần Truyện Trạng Quỳnh do Nguyễn Đức Hiền kể gồm 40 câu
truyện về Trạng từ thuở còn nhỏ tuổi cho đến khi mất. Chúng ta đều biết
truyện Trạng Quỳnh được lưu hành khá rộng rãi bằng đường truyền miệng
hoặc qua nhiều sách in hay chép tay, Hán Nôm hay Quốc ngữ. Nay được viết
lại, so với những truyện được nghe kể hay được in từ trước, Truyện Trạng Quỳnh
trong sách có thêm nhiều chi tiết, hoặc gắn liền với quê hương Bột
Thượng, hoặc thêm một số sự việc khiến câu chuyện sinh động hơn. Nói
chung lời kể hấp dẫn, có mạch lạc, cho thấy cả một hệ thống truyện cười
có tính đả kích chiến đấu cao, chĩa vào hầu hết mọi khía cạnh của chế độ
vua quan, thần quyền, tiêu biểu cho thời kỳ suy vong của chế độ phong
kiến cuối thời Lê Trịnh. Đây là địa hạt văn học dân gian, chuyện kể nói
chung phải được chấp nhận là “hợp lý”, và giữa nhiều dạng chuyện kể,
thường chỉ tồn tại những dạng nào hợp lý nhất, được công nhận nhiều
nhất. Hiểu như vậy, chúng tôi thấy có mấy chỗ chưa thật thỏa đáng ở phần Truyện Trạng Quỳnh hoặc về mối liên hệ với quê hương Bột Thượng, hoặc về những chi tiết thêm thắt không hợp, hay cần đính chính bổ sung.
- Về mối liên hệ với quê hương Bột Thượng. Sau truyện số 33 Người bạn vô danh, có chú thích ở cuối tr.151 “truyện này không thấy trong truyền thuyết địa phương hoặc dòng họ nhắc tới”. Sau truyện Càng đố càng thua cũng có chú thích “Nội dung... dựa theo chuyện Trạng Quỳnh mới sưu tầm ở các tỉnh phía Nam”. Như vậy có thể kết luận rằng những truyện khác đều nằm trong truyền thuyết lưu hành ở địa phương được không? Và nếu đúng như vậy thì truyện Cúng thành hoàng (tr.124) có thể lưu hành ở Bột Thượng không? Truyện kể vợ Trạng bị ốm, nói với Trạng sắm lễ vật cúng Thành Hoàng ở làng. Trạng luộc hai quả trứng, ra đình đặt lễ rồi đọc bài văn: “Chú là kẻ cả trong làng, ta là người sang trong nước v.v.” và rồi vợ cũng khỏi bệnh (sau khi uống nắm lá hương nhu Trạng đưa về). Chuyện như vậy, khó mà tin rằng có thể được kể đời này qua đời khác ở ngay quê Trạng. Chẳng lẽ dân làng lại coi khinh chính vị thần được thờ ở đình, một vị thần ban phúc lộc cho toàn thôn họ? Chẳng lẽ họ lại chịu chấp nhận một lời khấn ngạo mạn bất kính, gọi Thành hoàng làng là “chú” tự xưng mình là “ta”, cùng món lễ “hai quả trứng” hàm ý vô cùng xấc xược, dù người ấy là Trạng? Câu chuyện được kể trước đây chỉ nói tới một vị Thành hoàng chung chung, coi như một truyện cười phản bác thần quyền, không thể đạt vào một địa phương cụ thể, không thể lưu hành ở chính địa phương đó.
Có một số chi tiết thêm thắt xét ra chưa thật ổn. Đơn cử mấy truyện sau đây:
- Truyện số 6: Tiên sư thằng “Bảo Thái” (tr.85), là một truyện táo bạo, tỏ rõ thái độ khinh miệt của dân đối với tên hiệu của vua, không ngại gọi đích danh để chửi. Chuyện kể trước đây dân bán thịt bị lừa, phẫn nộ chửi “tiên sư thằng bảo thái” (chỉ người bảo thái thịt rồi không mua), quên không nhớ “Bảo Thái” là tên hiệu vua đương thời. Nhưng nếu thêm “Nhà vua không làm gì bọn bán thịt mà bị chúng réo chửi oan, không còn mặt mũi nào dám ra khỏi cổng thành nữa”, thì e rằng không hợp lý, khó xảy ra trong bối cảnh lịch sử đương thời. Nhất là thời Lê Dụ Tông (có niên hiệu Bảo Thái) không phải là một triều đại yếu kém, mất lòng dân. Trong Lịch triều hiến chương loại chí (Nhân vật chí) Phan Huy Chú đánh giá: “Nối nghiệp thái bình, không biết việc đao binh, trong nước vô sự. Triều đình đặt nhiều pháp chế, khuôn phép đầy đủ, kỷ cương nghiêm minh, phương xa đến cống, Trung Quốc trả lại đất. Thật là đời cực thịnh”. (X. bản dịch Nxb. Sử học, 1960, Tập I, tr.174) (Sách Trạng Quỳnh tr.228 còn thấy ghi “lũ vua hèn Hy Tông, Dụ Tông...” lời xét đoán này cũng cần xem lại, nhất là lại được đặt ở miệng vị “Bát đại tổ” tức Nguyễn Quỳnh).
- Truyện số 9: Quyển sách quý. Trạng Quỳnh đưa Chúa xem quyển sách có viết mấy câu: “Ngã đàm chi thế. Ngã đàm viết tả tô chấn tân thịnh nền giai khống xái châu”. Và theo lệnh chúa, Quỳnh đã “diễn nghĩa trôi chảy”: “Tôi lạm bàn về thế sự. Tôi bàn rằng: mình phải tả, phải tô điểm, phải làm cho hưng phấn thêm cái nền thịnh trị mới mẻ, đẹp vô cùng, châu báu cũng không sánh kịp” (Lời Trạng Quỳnh, có lược bỏ những đoạn câu chữ Hán được nhắc lại trước khi giảng giải). Câu chữ Hán viết sai mẹo mực, không có nghĩa gì, có thể coi là “bất thành cú”. Bài “diễn nghĩa trôi chảy” thực ra chẳng trôi chảy chút nào. Thế mà “nghe xong, chúa thở phào khoan khoái, khen Trạng: “Điều khanh viết trong sách thật hợp với ý ta. Đó là những danh ngôn, khanh nên giữ gìn cẩn thận để còn truyền cho mãi mãi về sau...”. Truyện kể thật khó tin!
- Truyện số 12: Lại lỡm quan thị. Quỳnh đến nhà quan thị đứng đầu giám ban, đọc cho nghe vế đối: “Thị vào chầu, thị đứng trông thị muốn ấy, thị không có cậy”, giảng cho biết ý “móc máy” trong đó, và nói là thấy nó ở dinh Đề Đốc; Rồi Quỳnh lại sang nhà Đề Đốc, nói đã thấy một vế đối ở “dinh Trưởng giám ban”, nghe “chua chát lắm, sâu cay lắm” và đọc. “Vũ ỷ mạnh, vũ ra vũ múa, vũ bị mưa, vũ bện xoắn lông”. Thế là “quân quan Đề đốc với bọn kiêu binh của Trưởng giám ban choảng nhau một trận ra trò. Phía quan thị hai người trọng thương, còn bên dinh Đề đốc thì nhà sảnh bị phá tan hoang...”. Người nghe chuyện không khỏi ngạc nhiên khi thấy hai bên chỉ bằng vào lời nói của Quỳnh, không hề đến tận chỗ dò hỏi xác minh sự thực (việc làm không khó gì), mà lại gây ngay chuyện ẩu đả. Truyện này về Trạng Quỳnh, tôi nhớ chưa từng đọc hay nghe thấy. Riêng câu đối thì vẫn được truyền tụng như một câu khéo gò chữ (chữ: “thị” và chữ “vũ” gắn liền với những nghĩa của từng chữ đồng âm có nghĩa khác nhau). Xem Câu đối Việt Nam của Phong Châu, Nxb. Văn Sử Địa, 1959: Quan thị và quan võ xỏ nhau, tr.218, có vài chữ khác.
- Truyện số 28: Thăm chúa ngủ ngày (tr.135). Truyện kể Trạng Quỳnh một buổi trưa vào thăm chúa, thấy đang ngủ, bèn đề hai chữ “ngọa sơn”. Chúa hỏi nghĩa, Trạng giải là “nằm ở trên núi”, “lên núi nằm hóng mát”, không có nghĩa gì khác. Chúa tin, không hỏi gì thêm. Nhưng khi chúa và chính cung cùng đi thăm cảnh đồng áng ngoài thành, nông dân thấy đã reo to “ngọa sơn”. Chúa cho bắt một người đến hỏi, người này “run lật bật” nói do Trạng Quỳnh có lần vào nội phủ về mách chúa đang bận “ngoạ sơn” và giảng thành “ngáy đèo”, “nói lái nghe rất tục”. Truyện kết: “Hiểu rõ đầu têu chuyện này là Trạng Quỳnh, bà chính cung nghĩ bụng, càng bới chuyện ra chỉ càng thêm xấu mặt. Đành giục Chúa lên kiệu phới cho nhanh”.
Sách chữ Nôm Sự tích ông Trạng Quỳnh (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm ký hiệu AB.405) hồi 22 “chúa ngủ ngày” (tr.24b) kể chuyện Trạng đề hai chữ “ngoa sơn”, chúa hỏi các quan, không ai hiểu, phải triệu Quỳnh vào. Quỳnh giải thành “ngáy đèo”, “cả triều ai cũng bật cười, mà chúa cũng phải cười”. Như vậy truyện ghi trong Trạng Quỳnh chỉ là một dạng kể khác, với đoạn sau xét kỹ không thật hợp lý, vì khó mà tưởng tượng được dân chúng muốn mang vạ vào mình mà đi reo hò hai tiếng “ngọa sơn”, biết rõ cái nghĩa không hay của nó đối với vợ chồng chúa, có thể dễ chuốc sự trừng phạt tàn khốc.
Truyện Trạng Quỳnh do Nguyễn Đức Hiền kể có ưu điểm là đã sưu tầm được khá phong phú, tỷ như so với sách chữ Nôm Sự tích ông Trạng Quỳnh (đã dẫn trên) thì đầy đủ hơn, với những truyện lý thú như Phơi sách phơi bụng (tr.117), Lễ tế sao (tr.129). Một số bài còn ghi thêm “dị bản”, như ở tr.123 (bài Đề tựa Bà Đanh), trang 129 bài Mừng chúa thắng trận) có ghi thêm xuất xứ ở sách Nam thiên lịch đại tư lược sử). Tuy nhiên giá có thể đặt kế hoạch, ngoài việc sưu tầm những chuyện kể ở địa phương (bao gồm quê hương Bột Thượng và cả vùng lân cận), còn tập hợp những tư liệu trong các sách Hán Nôm và Quốc ngữ về Trạng Quỳnh (mấy cuốn Hán Nôm được Hà Văn Tấn ghi lại ở phần đầu, tr.23, ct.1 và 2), đồng thời có sự so sánh phê phán cần thiết, chắc chắn sẽ là sự đóng góp quý giá cho mảng truyện cười dân gian liên can đến nhân vật truyền thuyết nổi tiếng này. Thí dụ, riêng về mặt tư liệu viết, có thể bổ sung Nam sử lược soạn giáp khoa lục (sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, VHv. 2141, tr. 396), bổ sung truyện Sứ tàu khiếp vía (tr.154), sau câu “vũ quá Bắc hải” đối lại câu “lôi động Nam bang” của sứ Tàu: “Trạng đái vào đầu sứ, sứ định đánh, Trạng nói: “Sấm trước mưa sau, lẽ trời đất là như vậy” (tiền phát lôi, hậu phát vũ, thiên địa chi lý nãi hĩ). Sứ Tàu đưa một khúc gỗ có đề ở chữ “hồ bất thực” đố đoán là gỗ gì. Trạng đoán “hồ bất thực” là “cáo chẳng ăn”, cáo chẳng ăn thì cáo gầy “cáo gầy” nói lái là “cây gạo”.
- Sự tích Ông Trạng Quỳnh (Sđd) hồi 17, tr.19a “Sẩm chơi nhà thổ” (Trạng bị mấy ả nhà thổ chèo kéo giằng co bèn tìm cách cho một bài học, bầy mưu cho mấy anh sẩm đóng giả vai quan thanh tra, đêm tối mặc áo giấy đi võng tới, các ả đón tiếp chu đáo, đến sáng mới biết bị lừa).
- Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (Sài Gòn 1966) tr.87-88 chép bài văn tế nhạc phụ và thân phụ Trạng Quỳnh do Trạng làm. Hai người chết gần ngày với nhau, nên đám tang cùng làm một bàn thờ chung và tế chung. Tuy nhiên đọc bài văn, chỉ thấy nói “hai ông”, không có chi tiết gì cho biết là bố đẻ và bố vợ. Lời văn có chỗ xấc xược, khó mà tin được do con khóc bố đẻ và con rể khóc bố vợ. Đây rất có thể chỉ là một bài tinh nghịch nhân chuyện hai ông thông gia nào đó, ngày mất gần nhau nên chung lễ mai táng, không hẳn chính là ông thân và ông nhạc của người làm bài vãn. Nhiều chuyện đã được gán cho nhân vật nổi tiếng Trạng Quỳnh để được thêm phần hấp dẫn.
- Từ điển văn học, Tập 2 (Nxb. KHXH, 1984) mục Trạng Quỳnh tr.415 kể mẩu chuyện Ngọc người khá lý thú, và ghi chuyện Cây gòn (có lẽ là truyện đố khúc gỗ cây gạo có ghi mấy chữ “hồ bất thực” vừa nói trên).
Việc tham khảo những tài liệu cũ, ngoài việc giúp bổ sung một số truyện, còn cho phép đính chính một số sai sót trong sách:
- Về bài Quyển sách quý (tr.92) có câu: “Ngã đàm chi thế...” không có nghĩa được Trạng giảng cho chúa cũng không hợp lý như đã trình bày ở trên, sách Sự tích ông Trạng Quỳnh (Sđd) ở hồi 11: Lỡm quan thị cũng kể chuyện cuốn sách quý, nhưng ghi 2 câu chữ Hán như sau: “Chúa vị thị thần viết: vi cốt tứ dịch vi cốt tứ dịch. Thị thần quị vi tấu viết: thần phùng chỉ phát, thần phùng chỉ phát”. Và Quỳnh đã giảng cho chúa: “Chúa hỏi thị thần rằng: làm sương cho sáo; thị thần quỳ mà tâu Quỳnh phải nói “xin chúa đọc đảo ngược lại”. Được hiểu nghĩa, “bấy giờ chúa cùng thị (tức quan thị) mới biết rằng Quỳnh lỡm, mà bảo Quỳnh mang sách về” (tr.15a). Cũng là câu lỡm quan thị, bằng cách dịch nghĩa từng từ Hán ra tiếng Việt và sử dụng lối nói lái, nhưng hợp lý hơn câu “ngã đàm chi thế”.
- Tr.104: Trạng viết vào bài thi: “Ô hô ! Da trâu, tang mít, khả tri thành bưng bít chi công... Đám hội, nhà chay, nổi thì thùng chi hiệu...” Hai câu trên tiếp liền nhau, đặt chấm lửng ở giữa không hợp, nên thay bằng dấu chấm phảy hay dấu chấm thường. Sau nữa, 2 câu đối nhau, nên câu sau (vế sau) thiếu hai chữ. Giai thoại làng Nho (sđd, tr.87) chép 2 câu như sau: “ô hô, da trâu tang mít, tự ký thành bưng bít chi công; đám giỗ nhà chay, thượng ký đổ thì thùng chi hiệu” (tự ký thành: tự nó thành; thượng ký đổ; bèn đã đổ).
- Tr.105: Cũng bài thi hội (lần thứ 3), đầu đề chúa ra, hướng vào việc “chính cung sinh thứ nam”. Mượn điềm lành ấu chúa ra đời, mở đầu bài chính văn, Quỳnh viết ngay hai câu “phá” (ct.: câu mở đầu bài luận văn): “Quân tắc cổ, thần tắc cổ, đái hàm quan Nghiêu Thuấn chi dân. Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lại Đường Ngu chi sĩ”. Giải nghĩa theo chữ Hán, đại ý là:
“Vua hành đạo theo phép tắc xưa, bề tôi hành đạo theo phép tắc xưa, dân ắt được đội ơn quan, sống (yên vui) đời Nghiêu Thuấn.
Trên thật là vui, dưới thật là vui, kẻ sĩ nhìn vào đám đầu lại, cũng thấy được (ánh sáng) đời Đường Ngu.
Mới xem lướt, quan Đề điệu (ct.: quan Chủ khảo) đứng cạnh, liền tâu (nói rõ những ý bất kính bao hàm ở 2 câu trên).
Đoạn văn trên có mấy chỗ chưa được ổn:
1- Hai câu trên không thể là “câu phá”. Là câu phá, nó phải sát với đầu đề. Hai câu này không đả động gì tới “điềm lành sinh ấu chúa” là không hợp thức, khi chấm sẽ bị loại ngay, không thể có chuyện “mới xem lướt, chúa Trịnh đã định xếp bài vào giải nhất”. (và đúng ra, bài phải qua quan trường chấm rồi mới đưa lên chúa).
2- Lời giải nghĩa 7 chữ đoạn của cả 2 vế không sát với nguyên văn. Và theo lời giải, chữ “quan” ở vế trên và chữ “lại” ở vế dưới là 2 chữ Hán trong “quan lại”, nếu đúng thế, nghĩa câu chữ Hán cũng không thông. Về 2 câu này, trong Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (sđd), tr.85 chép như sau:
“Quân tắc cổ, thần tắc cổ, đái hàm quan Ngu Thuấn chi công; Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lại Đường Nghiêu chi trị”.
Hai câu phiên âm cho thấy có khác mấy chữ thật ra không quan trọng (trừ ở câu trên, chữ “công” hợp hơn chữ “dân”, đi liền với nghĩa toàn câu hơn). Điều quan trọng là sách trên ghi rõ chữ Hán, cho phép hiểu “đái hàm quan” (kính cẩn đều nhìn nhận thấy), “ỷ đầu lại” (dựa đầu tiên vào sự nhờ cậy: hơi có trùng ý giữa 2 chữ ỷ và lại, vì cố gò hai tiếng Việt đồng âm có nghĩa trào lộng). Cả hai câu có thể dịch như sau (dịch lại câu của Lãng Nhân):
“Vua theo phép xưa, bầy tôi theo phép xưa, kính cẩn đều nhìn nhận công ơn vua Thuấn. Người trên hoà vui, người dưới hoà vui, trước hết nhờ cậy nền thịnh trị vua Nghiêu”. (Về câu trên, Nam sử lược soạn giáp khoa lục (sđd) tr.41b), cũng chép câu này, với 7 chữ cuối mỗi vế hơi khác, tuy vẫn là kiểu đùa cợt bằng cách “chơi chữ”: “... đái hàm quan Ngu Thuấn chi công... ỷ đầu lại Đường Nghiêu chi đức” (chữ Đái 帶 ghi là đai, quan 關 là cửa ải, liên lạc, chữ đái trên chắc ghi lầm. Nên sửa là 載 đội lên đầu). Giai thoại làng Nho ở cùng trang, còn chép 2 câu thơ trích ở bài chiếu về việc vua Hán gả công chúa cho Thiền Vu (chúa Hung Nô); Vũ kinh bách chiến dĩ khai đồ, Văn vô nhất thi nhi thối lỗ. Có thể dịch: “Võ từng trải trăm trận để mở mang cơ nghiệp; Văn không có được một bài thơ nhằm đánh lui quân giặc (do đó phải dùng kế mỹ nhân, gả công chúa để cầu hòa). Hai câu rất hợp với đầu đề, đối nhau rất chỉnh, ý tứ rất trang trọng, nhưng càng gây cười khi nhận thấy có sự tương phản, với ý chớt nhả của hai chữ cuối, trùng âm với hai tiếng Việt chẳng trang trọng chút nào. (Giai thoại làng Nho cho rằng mấy câu văn trên nằm trong bài thi Hương của Trạng Quỳnh, quan giám khảo khi chấm thấy hay, cho đỗ, sau kiểm điểm lại mới nhận ra lối chơi chữ ngạo mạn trong đó, nhưng bảng đỗ đã yết, không đánh hỏng được. Và sách ghi thêm 4 câu thơ Nôm tinh nghịch của Trạng khi cưỡi ngựa vinh qui về làng).
Trên đây chỉ là sơ bộ dựa vào mấy cuốn sách, thêm ít tư liệu bổ chính phần truyện Trạng Quỳnh. Nếu có điều kiện đi sâu hơn nữa, vừa sưu tầm những chuyện còn lưu hành ở vùng quê Hoằng Lộc, vừa tìm bổ sung, đối chiếu, dựa trên các sách Hán Nôm và Quốc ngữ, chắc đã có một sưu tập có giá trị về Truyện Trạng Quỳnh.
- Về mối liên hệ với quê hương Bột Thượng. Sau truyện số 33 Người bạn vô danh, có chú thích ở cuối tr.151 “truyện này không thấy trong truyền thuyết địa phương hoặc dòng họ nhắc tới”. Sau truyện Càng đố càng thua cũng có chú thích “Nội dung... dựa theo chuyện Trạng Quỳnh mới sưu tầm ở các tỉnh phía Nam”. Như vậy có thể kết luận rằng những truyện khác đều nằm trong truyền thuyết lưu hành ở địa phương được không? Và nếu đúng như vậy thì truyện Cúng thành hoàng (tr.124) có thể lưu hành ở Bột Thượng không? Truyện kể vợ Trạng bị ốm, nói với Trạng sắm lễ vật cúng Thành Hoàng ở làng. Trạng luộc hai quả trứng, ra đình đặt lễ rồi đọc bài văn: “Chú là kẻ cả trong làng, ta là người sang trong nước v.v.” và rồi vợ cũng khỏi bệnh (sau khi uống nắm lá hương nhu Trạng đưa về). Chuyện như vậy, khó mà tin rằng có thể được kể đời này qua đời khác ở ngay quê Trạng. Chẳng lẽ dân làng lại coi khinh chính vị thần được thờ ở đình, một vị thần ban phúc lộc cho toàn thôn họ? Chẳng lẽ họ lại chịu chấp nhận một lời khấn ngạo mạn bất kính, gọi Thành hoàng làng là “chú” tự xưng mình là “ta”, cùng món lễ “hai quả trứng” hàm ý vô cùng xấc xược, dù người ấy là Trạng? Câu chuyện được kể trước đây chỉ nói tới một vị Thành hoàng chung chung, coi như một truyện cười phản bác thần quyền, không thể đạt vào một địa phương cụ thể, không thể lưu hành ở chính địa phương đó.
Có một số chi tiết thêm thắt xét ra chưa thật ổn. Đơn cử mấy truyện sau đây:
- Truyện số 6: Tiên sư thằng “Bảo Thái” (tr.85), là một truyện táo bạo, tỏ rõ thái độ khinh miệt của dân đối với tên hiệu của vua, không ngại gọi đích danh để chửi. Chuyện kể trước đây dân bán thịt bị lừa, phẫn nộ chửi “tiên sư thằng bảo thái” (chỉ người bảo thái thịt rồi không mua), quên không nhớ “Bảo Thái” là tên hiệu vua đương thời. Nhưng nếu thêm “Nhà vua không làm gì bọn bán thịt mà bị chúng réo chửi oan, không còn mặt mũi nào dám ra khỏi cổng thành nữa”, thì e rằng không hợp lý, khó xảy ra trong bối cảnh lịch sử đương thời. Nhất là thời Lê Dụ Tông (có niên hiệu Bảo Thái) không phải là một triều đại yếu kém, mất lòng dân. Trong Lịch triều hiến chương loại chí (Nhân vật chí) Phan Huy Chú đánh giá: “Nối nghiệp thái bình, không biết việc đao binh, trong nước vô sự. Triều đình đặt nhiều pháp chế, khuôn phép đầy đủ, kỷ cương nghiêm minh, phương xa đến cống, Trung Quốc trả lại đất. Thật là đời cực thịnh”. (X. bản dịch Nxb. Sử học, 1960, Tập I, tr.174) (Sách Trạng Quỳnh tr.228 còn thấy ghi “lũ vua hèn Hy Tông, Dụ Tông...” lời xét đoán này cũng cần xem lại, nhất là lại được đặt ở miệng vị “Bát đại tổ” tức Nguyễn Quỳnh).
- Truyện số 9: Quyển sách quý. Trạng Quỳnh đưa Chúa xem quyển sách có viết mấy câu: “Ngã đàm chi thế. Ngã đàm viết tả tô chấn tân thịnh nền giai khống xái châu”. Và theo lệnh chúa, Quỳnh đã “diễn nghĩa trôi chảy”: “Tôi lạm bàn về thế sự. Tôi bàn rằng: mình phải tả, phải tô điểm, phải làm cho hưng phấn thêm cái nền thịnh trị mới mẻ, đẹp vô cùng, châu báu cũng không sánh kịp” (Lời Trạng Quỳnh, có lược bỏ những đoạn câu chữ Hán được nhắc lại trước khi giảng giải). Câu chữ Hán viết sai mẹo mực, không có nghĩa gì, có thể coi là “bất thành cú”. Bài “diễn nghĩa trôi chảy” thực ra chẳng trôi chảy chút nào. Thế mà “nghe xong, chúa thở phào khoan khoái, khen Trạng: “Điều khanh viết trong sách thật hợp với ý ta. Đó là những danh ngôn, khanh nên giữ gìn cẩn thận để còn truyền cho mãi mãi về sau...”. Truyện kể thật khó tin!
- Truyện số 12: Lại lỡm quan thị. Quỳnh đến nhà quan thị đứng đầu giám ban, đọc cho nghe vế đối: “Thị vào chầu, thị đứng trông thị muốn ấy, thị không có cậy”, giảng cho biết ý “móc máy” trong đó, và nói là thấy nó ở dinh Đề Đốc; Rồi Quỳnh lại sang nhà Đề Đốc, nói đã thấy một vế đối ở “dinh Trưởng giám ban”, nghe “chua chát lắm, sâu cay lắm” và đọc. “Vũ ỷ mạnh, vũ ra vũ múa, vũ bị mưa, vũ bện xoắn lông”. Thế là “quân quan Đề đốc với bọn kiêu binh của Trưởng giám ban choảng nhau một trận ra trò. Phía quan thị hai người trọng thương, còn bên dinh Đề đốc thì nhà sảnh bị phá tan hoang...”. Người nghe chuyện không khỏi ngạc nhiên khi thấy hai bên chỉ bằng vào lời nói của Quỳnh, không hề đến tận chỗ dò hỏi xác minh sự thực (việc làm không khó gì), mà lại gây ngay chuyện ẩu đả. Truyện này về Trạng Quỳnh, tôi nhớ chưa từng đọc hay nghe thấy. Riêng câu đối thì vẫn được truyền tụng như một câu khéo gò chữ (chữ: “thị” và chữ “vũ” gắn liền với những nghĩa của từng chữ đồng âm có nghĩa khác nhau). Xem Câu đối Việt Nam của Phong Châu, Nxb. Văn Sử Địa, 1959: Quan thị và quan võ xỏ nhau, tr.218, có vài chữ khác.
- Truyện số 28: Thăm chúa ngủ ngày (tr.135). Truyện kể Trạng Quỳnh một buổi trưa vào thăm chúa, thấy đang ngủ, bèn đề hai chữ “ngọa sơn”. Chúa hỏi nghĩa, Trạng giải là “nằm ở trên núi”, “lên núi nằm hóng mát”, không có nghĩa gì khác. Chúa tin, không hỏi gì thêm. Nhưng khi chúa và chính cung cùng đi thăm cảnh đồng áng ngoài thành, nông dân thấy đã reo to “ngọa sơn”. Chúa cho bắt một người đến hỏi, người này “run lật bật” nói do Trạng Quỳnh có lần vào nội phủ về mách chúa đang bận “ngoạ sơn” và giảng thành “ngáy đèo”, “nói lái nghe rất tục”. Truyện kết: “Hiểu rõ đầu têu chuyện này là Trạng Quỳnh, bà chính cung nghĩ bụng, càng bới chuyện ra chỉ càng thêm xấu mặt. Đành giục Chúa lên kiệu phới cho nhanh”.
Sách chữ Nôm Sự tích ông Trạng Quỳnh (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm ký hiệu AB.405) hồi 22 “chúa ngủ ngày” (tr.24b) kể chuyện Trạng đề hai chữ “ngoa sơn”, chúa hỏi các quan, không ai hiểu, phải triệu Quỳnh vào. Quỳnh giải thành “ngáy đèo”, “cả triều ai cũng bật cười, mà chúa cũng phải cười”. Như vậy truyện ghi trong Trạng Quỳnh chỉ là một dạng kể khác, với đoạn sau xét kỹ không thật hợp lý, vì khó mà tưởng tượng được dân chúng muốn mang vạ vào mình mà đi reo hò hai tiếng “ngọa sơn”, biết rõ cái nghĩa không hay của nó đối với vợ chồng chúa, có thể dễ chuốc sự trừng phạt tàn khốc.
Truyện Trạng Quỳnh do Nguyễn Đức Hiền kể có ưu điểm là đã sưu tầm được khá phong phú, tỷ như so với sách chữ Nôm Sự tích ông Trạng Quỳnh (đã dẫn trên) thì đầy đủ hơn, với những truyện lý thú như Phơi sách phơi bụng (tr.117), Lễ tế sao (tr.129). Một số bài còn ghi thêm “dị bản”, như ở tr.123 (bài Đề tựa Bà Đanh), trang 129 bài Mừng chúa thắng trận) có ghi thêm xuất xứ ở sách Nam thiên lịch đại tư lược sử). Tuy nhiên giá có thể đặt kế hoạch, ngoài việc sưu tầm những chuyện kể ở địa phương (bao gồm quê hương Bột Thượng và cả vùng lân cận), còn tập hợp những tư liệu trong các sách Hán Nôm và Quốc ngữ về Trạng Quỳnh (mấy cuốn Hán Nôm được Hà Văn Tấn ghi lại ở phần đầu, tr.23, ct.1 và 2), đồng thời có sự so sánh phê phán cần thiết, chắc chắn sẽ là sự đóng góp quý giá cho mảng truyện cười dân gian liên can đến nhân vật truyền thuyết nổi tiếng này. Thí dụ, riêng về mặt tư liệu viết, có thể bổ sung Nam sử lược soạn giáp khoa lục (sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, VHv. 2141, tr. 396), bổ sung truyện Sứ tàu khiếp vía (tr.154), sau câu “vũ quá Bắc hải” đối lại câu “lôi động Nam bang” của sứ Tàu: “Trạng đái vào đầu sứ, sứ định đánh, Trạng nói: “Sấm trước mưa sau, lẽ trời đất là như vậy” (tiền phát lôi, hậu phát vũ, thiên địa chi lý nãi hĩ). Sứ Tàu đưa một khúc gỗ có đề ở chữ “hồ bất thực” đố đoán là gỗ gì. Trạng đoán “hồ bất thực” là “cáo chẳng ăn”, cáo chẳng ăn thì cáo gầy “cáo gầy” nói lái là “cây gạo”.
- Sự tích Ông Trạng Quỳnh (Sđd) hồi 17, tr.19a “Sẩm chơi nhà thổ” (Trạng bị mấy ả nhà thổ chèo kéo giằng co bèn tìm cách cho một bài học, bầy mưu cho mấy anh sẩm đóng giả vai quan thanh tra, đêm tối mặc áo giấy đi võng tới, các ả đón tiếp chu đáo, đến sáng mới biết bị lừa).
- Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (Sài Gòn 1966) tr.87-88 chép bài văn tế nhạc phụ và thân phụ Trạng Quỳnh do Trạng làm. Hai người chết gần ngày với nhau, nên đám tang cùng làm một bàn thờ chung và tế chung. Tuy nhiên đọc bài văn, chỉ thấy nói “hai ông”, không có chi tiết gì cho biết là bố đẻ và bố vợ. Lời văn có chỗ xấc xược, khó mà tin được do con khóc bố đẻ và con rể khóc bố vợ. Đây rất có thể chỉ là một bài tinh nghịch nhân chuyện hai ông thông gia nào đó, ngày mất gần nhau nên chung lễ mai táng, không hẳn chính là ông thân và ông nhạc của người làm bài vãn. Nhiều chuyện đã được gán cho nhân vật nổi tiếng Trạng Quỳnh để được thêm phần hấp dẫn.
- Từ điển văn học, Tập 2 (Nxb. KHXH, 1984) mục Trạng Quỳnh tr.415 kể mẩu chuyện Ngọc người khá lý thú, và ghi chuyện Cây gòn (có lẽ là truyện đố khúc gỗ cây gạo có ghi mấy chữ “hồ bất thực” vừa nói trên).
Việc tham khảo những tài liệu cũ, ngoài việc giúp bổ sung một số truyện, còn cho phép đính chính một số sai sót trong sách:
- Về bài Quyển sách quý (tr.92) có câu: “Ngã đàm chi thế...” không có nghĩa được Trạng giảng cho chúa cũng không hợp lý như đã trình bày ở trên, sách Sự tích ông Trạng Quỳnh (Sđd) ở hồi 11: Lỡm quan thị cũng kể chuyện cuốn sách quý, nhưng ghi 2 câu chữ Hán như sau: “Chúa vị thị thần viết: vi cốt tứ dịch vi cốt tứ dịch. Thị thần quị vi tấu viết: thần phùng chỉ phát, thần phùng chỉ phát”. Và Quỳnh đã giảng cho chúa: “Chúa hỏi thị thần rằng: làm sương cho sáo; thị thần quỳ mà tâu Quỳnh phải nói “xin chúa đọc đảo ngược lại”. Được hiểu nghĩa, “bấy giờ chúa cùng thị (tức quan thị) mới biết rằng Quỳnh lỡm, mà bảo Quỳnh mang sách về” (tr.15a). Cũng là câu lỡm quan thị, bằng cách dịch nghĩa từng từ Hán ra tiếng Việt và sử dụng lối nói lái, nhưng hợp lý hơn câu “ngã đàm chi thế”.
- Tr.104: Trạng viết vào bài thi: “Ô hô ! Da trâu, tang mít, khả tri thành bưng bít chi công... Đám hội, nhà chay, nổi thì thùng chi hiệu...” Hai câu trên tiếp liền nhau, đặt chấm lửng ở giữa không hợp, nên thay bằng dấu chấm phảy hay dấu chấm thường. Sau nữa, 2 câu đối nhau, nên câu sau (vế sau) thiếu hai chữ. Giai thoại làng Nho (sđd, tr.87) chép 2 câu như sau: “ô hô, da trâu tang mít, tự ký thành bưng bít chi công; đám giỗ nhà chay, thượng ký đổ thì thùng chi hiệu” (tự ký thành: tự nó thành; thượng ký đổ; bèn đã đổ).
- Tr.105: Cũng bài thi hội (lần thứ 3), đầu đề chúa ra, hướng vào việc “chính cung sinh thứ nam”. Mượn điềm lành ấu chúa ra đời, mở đầu bài chính văn, Quỳnh viết ngay hai câu “phá” (ct.: câu mở đầu bài luận văn): “Quân tắc cổ, thần tắc cổ, đái hàm quan Nghiêu Thuấn chi dân. Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lại Đường Ngu chi sĩ”. Giải nghĩa theo chữ Hán, đại ý là:
“Vua hành đạo theo phép tắc xưa, bề tôi hành đạo theo phép tắc xưa, dân ắt được đội ơn quan, sống (yên vui) đời Nghiêu Thuấn.
Trên thật là vui, dưới thật là vui, kẻ sĩ nhìn vào đám đầu lại, cũng thấy được (ánh sáng) đời Đường Ngu.
Mới xem lướt, quan Đề điệu (ct.: quan Chủ khảo) đứng cạnh, liền tâu (nói rõ những ý bất kính bao hàm ở 2 câu trên).
Đoạn văn trên có mấy chỗ chưa được ổn:
1- Hai câu trên không thể là “câu phá”. Là câu phá, nó phải sát với đầu đề. Hai câu này không đả động gì tới “điềm lành sinh ấu chúa” là không hợp thức, khi chấm sẽ bị loại ngay, không thể có chuyện “mới xem lướt, chúa Trịnh đã định xếp bài vào giải nhất”. (và đúng ra, bài phải qua quan trường chấm rồi mới đưa lên chúa).
2- Lời giải nghĩa 7 chữ đoạn của cả 2 vế không sát với nguyên văn. Và theo lời giải, chữ “quan” ở vế trên và chữ “lại” ở vế dưới là 2 chữ Hán trong “quan lại”, nếu đúng thế, nghĩa câu chữ Hán cũng không thông. Về 2 câu này, trong Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (sđd), tr.85 chép như sau:
“Quân tắc cổ, thần tắc cổ, đái hàm quan Ngu Thuấn chi công; Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lại Đường Nghiêu chi trị”.
Hai câu phiên âm cho thấy có khác mấy chữ thật ra không quan trọng (trừ ở câu trên, chữ “công” hợp hơn chữ “dân”, đi liền với nghĩa toàn câu hơn). Điều quan trọng là sách trên ghi rõ chữ Hán, cho phép hiểu “đái hàm quan” (kính cẩn đều nhìn nhận thấy), “ỷ đầu lại” (dựa đầu tiên vào sự nhờ cậy: hơi có trùng ý giữa 2 chữ ỷ và lại, vì cố gò hai tiếng Việt đồng âm có nghĩa trào lộng). Cả hai câu có thể dịch như sau (dịch lại câu của Lãng Nhân):
“Vua theo phép xưa, bầy tôi theo phép xưa, kính cẩn đều nhìn nhận công ơn vua Thuấn. Người trên hoà vui, người dưới hoà vui, trước hết nhờ cậy nền thịnh trị vua Nghiêu”. (Về câu trên, Nam sử lược soạn giáp khoa lục (sđd) tr.41b), cũng chép câu này, với 7 chữ cuối mỗi vế hơi khác, tuy vẫn là kiểu đùa cợt bằng cách “chơi chữ”: “... đái hàm quan Ngu Thuấn chi công... ỷ đầu lại Đường Nghiêu chi đức” (chữ Đái 帶 ghi là đai, quan 關 là cửa ải, liên lạc, chữ đái trên chắc ghi lầm. Nên sửa là 載 đội lên đầu). Giai thoại làng Nho ở cùng trang, còn chép 2 câu thơ trích ở bài chiếu về việc vua Hán gả công chúa cho Thiền Vu (chúa Hung Nô); Vũ kinh bách chiến dĩ khai đồ, Văn vô nhất thi nhi thối lỗ. Có thể dịch: “Võ từng trải trăm trận để mở mang cơ nghiệp; Văn không có được một bài thơ nhằm đánh lui quân giặc (do đó phải dùng kế mỹ nhân, gả công chúa để cầu hòa). Hai câu rất hợp với đầu đề, đối nhau rất chỉnh, ý tứ rất trang trọng, nhưng càng gây cười khi nhận thấy có sự tương phản, với ý chớt nhả của hai chữ cuối, trùng âm với hai tiếng Việt chẳng trang trọng chút nào. (Giai thoại làng Nho cho rằng mấy câu văn trên nằm trong bài thi Hương của Trạng Quỳnh, quan giám khảo khi chấm thấy hay, cho đỗ, sau kiểm điểm lại mới nhận ra lối chơi chữ ngạo mạn trong đó, nhưng bảng đỗ đã yết, không đánh hỏng được. Và sách ghi thêm 4 câu thơ Nôm tinh nghịch của Trạng khi cưỡi ngựa vinh qui về làng).
Trên đây chỉ là sơ bộ dựa vào mấy cuốn sách, thêm ít tư liệu bổ chính phần truyện Trạng Quỳnh. Nếu có điều kiện đi sâu hơn nữa, vừa sưu tầm những chuyện còn lưu hành ở vùng quê Hoằng Lộc, vừa tìm bổ sung, đối chiếu, dựa trên các sách Hán Nôm và Quốc ngữ, chắc đã có một sưu tập có giá trị về Truyện Trạng Quỳnh.
*
*
*
*
Phần 3 của tập sách, dưới nhan đề “Nghĩ về quê tổ” là một bài ký với
tư liệu súc tích, lời văn sinh động hấp dẫn về đất Hoằng Bột (nay là
Hoằng Lộc), quê hương của Nguyễn Quỳnh - Trạng Quỳnh, cụ nội 8 đời của
tác giả Nguyễn Đức Hiền. Bài ký đã nhắc lại lịch sử lâu đời của khu đất
này, từ thời thượng cổ với tên Bột Đà trang (với sự tích tên gọi này),
tên Kẻ Vụt, rồi đến tên Hoằng Bột cuối triều Nguyễn và Hoằng Lộc hiện
nay. Đã được giới thiệu khá đầy đủ mọi mặt: cảnh đẹp thiên nhiên, di
tích đình chùa, sự tích các vị Thành hoàng, đời sống vật chất và tinh
thần của dân làng. Và nổi bật là tính cách “văn hiến”, với hàng chục bậc
đại khoa và trung khoa, nổi tiếng nhất có thể kể: Bùi Khắc Nhất (Bảng
nhãn), Nguyễn Lại (Hoàng Giáp), Nguyễn Ngọc Huyền (Tiến sĩ) v.v. (X.
tr.190-193: Nguyễn Lại được ghi là đỗ Tiến sĩ, nhưng theo Đăng khoa lục
Q.3, tờ 6a, ông đỗ Hoàng giáp). Cho tới trước Cách mạng tháng 8, có
“Tiến sĩ văn chương tốt nghiệp ở Pháp”, nhiều “Tú tài bản xứ” “đít lôm”,
và hiện nay, toàn xã Hoằng Lộc “với con số nghìn dân, có 425 người đạt
trình độ đại học và trên đại học, 14 Tiến sĩ, Phó tiến sĩ, 9 Giáo sư”
(tr.232). Đất văn hiến không chỉ thấy ở những người đỗ đạt. Tác giả kể
chuyện cho chúng ta về bà nội của mình, với vốn kiến thức rộng nhớ hết
“mười mấy vị đại khoa trong làng” với “lai lịch từng vị” (tr.173), bà
Mộc “giỏi kể chuyện”, từng “nói lỡm” kiểu Trạng Quỳnh với “quan Đốc học
trên tỉnh” trong buổi về thanh tra trường làng (tr.207-209), và về chú
“mõ” có “tiếng rao dóng dả ngân nga, có vần điệu như điệp khúc một bài
hát cổ, và mỗi lần cung cách một khác”, khiến một quan Bố chính đi qua
nghe thấy phải gọi tới hỏi chuyện và thưởng tiền (tr.199), hoặc về “chú
khán đình Bảng” đã nhanh trí bày kế bắt Thượng Hà phải trở về đúng chỗ
của mình trong buổi họp văn thân đầu năm (tr.200-202).
Bài ký đã thể hiện tình thương yêu và niềm tự hào của người viết đối với quê hương, và truyền được tình cảm thân thương mến phục cho người đọc. Ta thấy rõ nét cuộc sống văn hóa vô cùng phong phú trong làng xã Việt Nam, nằm trong những truyền thuyết, những giai thoại về đời sống các danh nhân, những tục lệ, những câu ca vè, tất cả những thứ đó đang cần được sưu tầm gấp rút. Làng Hoằng Lộc có thể coi như một trong những làng tiêu biểu về mặt này. Mong sao mọi làng đều có được những bài viết về quê hương như thế. Dĩ nhiên không phải làng nào cũng có được di sản văn hóa phong phú như nhau, nhưng chắc chắn mỗi làng đều có những nét riêng biệt rất đáng trân trọng và tự hào của mình.
Bên cạnh những ưu điểm rõ rệt của Nghĩ về quê tổ, có một số chỗ chưa thật ổn, cần đi sâu hơn nữa. Đơn cử mấy đoạn sau:
- Tr.178-181 nói với Nguyễn Bá Nhạ đỗ Hoàng giáp năm 18 tuổi, vì xích mích đối với Hà Duy Phiên nên phải “đi phiên trấn một vùng sơn lâm chướng khí” rồi mất ở đó. Hiện ở làng còn đền thờ với tấm biển “Tam nguyên từ”, và câu đối tương truyền là của Tự Đức: “Nhân sinh bách tuế vi kỳ, bán chi bán, lân quân mệnh bạc. Nhữ thiếu tam khôi cập đệ, kỳ cánh kỳ, sử trẫm tâm bi”.
Sách Quốc triều khoa bảng lục (Thư viện Viện Hán Nôm, ký hiệu A.37, Q1, tr.16b) cho biết Nguyễn Bá Nhạ đỗ năm Quý Mão (1843), lúc ông 22 tuổi, làm đến chức Tri phủ, có lỗi. Ghi như vậy, thường có nghĩa “do phạm lỗi, phải thôi việc”, không rõ có phải là trường hợp Nguyễn Bá Nhạ không, nhưng về tuổi thi đỗ thì không hợp với truyền thuyết địa phương. Dù sao, Nguyễn Bá Nhạ chỉ đỗ Hoàng giáp trong khoa này, đỗ đầu là Mai Anh Tuấn (Thám hoa), vậy đền thờ ông không thể có biển “Tam nguyên từ” (đền thờ vị đỗ đầu cả ba khoa thi Hương, Hội, Đình), và câu đối có mấy chữ “Tam khôi cập đệ” dĩ nhiên không hợp.
- Tr.187-188, câu đối ở nhà thờ Bùi Khắc Nhất, “chức thượng khanh tước hầu, trông coi sáu bộ, trải ba triều vua”: “Tứ thập tứ tải tuyên lao, sự kinh lục bộ; Thất thập thất niên hưởng thọ, sĩ lịch tam triều”. Nghĩa là: Bốn mươi bốn năm cai quản sáu bộ, công lao (đáng được) nêu cao; Bảy mươi bảy tuổi thờ ba triều vua, tuổi đời (đáng được) sống lâu”. Về câu đối trên, “tuyên lao” có nghĩa “làm việc hết sức mình”, không thể dịch “công lao đáng được nêu cao”; “sự kinh lục bộ” không hẳn là “cai quản lục bộ” mà chỉ có nghĩa “từng qua sáu bộ”, từng qua một trong sáu bộ (hay nhiều bộ”. Theo Đăng khoa lục (Q.2, tr.46b), Bùi Khắc Nhất “làm quan đến Hộ bộ Thượng thư, vinh phong Kiệt tiết tuyên lực, Hiệp mưu tá lý công thần”. Đề nghị tạm dịch sửa lại cho sát nghĩa hơn: “Bốn mươi bốn năm gắng hết sức mình, việc qua sáu bộ; bảy mươi bảy xuân vui hưởng tuổi thọ, quan trải ba triều”.
Bài ký đã thể hiện tình thương yêu và niềm tự hào của người viết đối với quê hương, và truyền được tình cảm thân thương mến phục cho người đọc. Ta thấy rõ nét cuộc sống văn hóa vô cùng phong phú trong làng xã Việt Nam, nằm trong những truyền thuyết, những giai thoại về đời sống các danh nhân, những tục lệ, những câu ca vè, tất cả những thứ đó đang cần được sưu tầm gấp rút. Làng Hoằng Lộc có thể coi như một trong những làng tiêu biểu về mặt này. Mong sao mọi làng đều có được những bài viết về quê hương như thế. Dĩ nhiên không phải làng nào cũng có được di sản văn hóa phong phú như nhau, nhưng chắc chắn mỗi làng đều có những nét riêng biệt rất đáng trân trọng và tự hào của mình.
Bên cạnh những ưu điểm rõ rệt của Nghĩ về quê tổ, có một số chỗ chưa thật ổn, cần đi sâu hơn nữa. Đơn cử mấy đoạn sau:
- Tr.178-181 nói với Nguyễn Bá Nhạ đỗ Hoàng giáp năm 18 tuổi, vì xích mích đối với Hà Duy Phiên nên phải “đi phiên trấn một vùng sơn lâm chướng khí” rồi mất ở đó. Hiện ở làng còn đền thờ với tấm biển “Tam nguyên từ”, và câu đối tương truyền là của Tự Đức: “Nhân sinh bách tuế vi kỳ, bán chi bán, lân quân mệnh bạc. Nhữ thiếu tam khôi cập đệ, kỳ cánh kỳ, sử trẫm tâm bi”.
Sách Quốc triều khoa bảng lục (Thư viện Viện Hán Nôm, ký hiệu A.37, Q1, tr.16b) cho biết Nguyễn Bá Nhạ đỗ năm Quý Mão (1843), lúc ông 22 tuổi, làm đến chức Tri phủ, có lỗi. Ghi như vậy, thường có nghĩa “do phạm lỗi, phải thôi việc”, không rõ có phải là trường hợp Nguyễn Bá Nhạ không, nhưng về tuổi thi đỗ thì không hợp với truyền thuyết địa phương. Dù sao, Nguyễn Bá Nhạ chỉ đỗ Hoàng giáp trong khoa này, đỗ đầu là Mai Anh Tuấn (Thám hoa), vậy đền thờ ông không thể có biển “Tam nguyên từ” (đền thờ vị đỗ đầu cả ba khoa thi Hương, Hội, Đình), và câu đối có mấy chữ “Tam khôi cập đệ” dĩ nhiên không hợp.
- Tr.187-188, câu đối ở nhà thờ Bùi Khắc Nhất, “chức thượng khanh tước hầu, trông coi sáu bộ, trải ba triều vua”: “Tứ thập tứ tải tuyên lao, sự kinh lục bộ; Thất thập thất niên hưởng thọ, sĩ lịch tam triều”. Nghĩa là: Bốn mươi bốn năm cai quản sáu bộ, công lao (đáng được) nêu cao; Bảy mươi bảy tuổi thờ ba triều vua, tuổi đời (đáng được) sống lâu”. Về câu đối trên, “tuyên lao” có nghĩa “làm việc hết sức mình”, không thể dịch “công lao đáng được nêu cao”; “sự kinh lục bộ” không hẳn là “cai quản lục bộ” mà chỉ có nghĩa “từng qua sáu bộ”, từng qua một trong sáu bộ (hay nhiều bộ”. Theo Đăng khoa lục (Q.2, tr.46b), Bùi Khắc Nhất “làm quan đến Hộ bộ Thượng thư, vinh phong Kiệt tiết tuyên lực, Hiệp mưu tá lý công thần”. Đề nghị tạm dịch sửa lại cho sát nghĩa hơn: “Bốn mươi bốn năm gắng hết sức mình, việc qua sáu bộ; bảy mươi bảy xuân vui hưởng tuổi thọ, quan trải ba triều”.
*
*
*
*
Để kết luận có thể nói sách Trạng Quỳnh tuy đứng tên hai
người biên soạn, nhưng phần đóng góp trội hơn do Nguyễn Đức Hiền, người
đã phát hiện gia phả và nhờ Gs. Hà Văn Tấn nghiên cứu giới thiệu. Đây có
thể coi như một hiến phẩm của nhà văn này dâng lên vị tổ tám đời là
Cống Quỳnh, và quê hương Hoằng Lộc đã sản sinh nhiều nhân vật được ghi
tên trong sử sách. Cuốn sách đã cung cấp nhiều tư liệu quý về tiểu sử và
tác phẩm của Nguyễn Quỳnh và quê hương ông, khẳng định mối liên hệ giữa
Cống Quỳnh và Trạng Quỳnh trong truyền thuyết, đồng thời tập hợp tương
đối đầy đủ những chuyện kể đầy tính hài hước, chĩa mũi nhọn vào bọn vua
chúa quan lại, kể cả thần linh, được dân chúng truyền lại qua bao nhiêu
đời. Một số nhận xét trong bài này chỉ nhằm đóng góp thêm tư liệu, mong
giúp công trình biên soạn về Cống Quỳnh-Trạng Quỳnh được hoàn chỉnh
hơn./.
Người biên tập: Hoàng Văn Lâu
|
|
No comments:
Post a Comment