http://hannom.org.vn/web/tchn/data/9602v.htm
SÁCH DẠY - HỌC CHỮ HÁN MỘT DI SẢN
TƯ TƯỞNG LỚN ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP VĨ ĐẠI NÂNG CAO DÂN TRÍ HIỆN NAY(1)
TƯ TƯỞNG LỚN ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP VĨ ĐẠI NÂNG CAO DÂN TRÍ HIỆN NAY(1)
Nếu như trên bàn tay chúng ta là cuốn sách tâm lý học hiện đại và
phương pháp giảng dạy mới về ngoại ngữ, trước mắt chúng ta là những sách
học chữ Hán của người xưa đã thành kinh điển bởi sự đong đầy nén chặt
lượng thông tin văn hóa chung thời đại trong văn bản, trong tâm trí
chúng ta là hình ảnh không chỉ của một số tài năng riêng lẻ, mà cả một
loạt người thuộc nhiều thế hệ nhà nho đã nắm vững phương tiện giao tiếp
mới thành thạo đến mức biến nó thành tiếng mẹ đẻ thứ hai để làm văn, làm
chính trị,làm khoa học, làm cách mạng và bên tai chúng ta còn vang lên
những câu chữ Hán đan cài một cách tự nhiên, uyển chuyển vào câu chuyện
hàng ngày của nhiều cụ đồ nho, thì hẳn là chúng ta cảm thấy rõ một giá
trị kép di sản văn hóa tinh thần của dân tộc chứa đựng tro ng kho tàng
sách đồ sộ bằng chữ Hán: giá trị văn học - nghệ thuật, chính trị - xã
hội, giá trị khoa học kỹ thuật và giá trị khoa học dạy ngôn ngữ mới ẩn
náu trên từng trang sách, hay sáng trên từng gương mặt của các bậc tiền
bối, một khi chúng ta biết đặt câu hỏi: tổ tiên ta đã dạy và học như thế
nào để đạt kết quả lí tưởng đó. Câu hỏi và câu trả lời đó càng đậm nét
hơn, khi hai hình ảnh tương phản dưới đây cùng hiện lên một lúc trong
ta: một bên là cụ đồ với chiếc roi song và những cậu tú tương lai với tờ
giấy bản, ngòi bút lông, nghiên mực và cuốn Tam tự kinh cuốn
sách vỡ lòng với những dòng chữ mà nếu đọc lên, lớp trẻ ngày nay nghe cứ
ngỡ như là một tác phẩm đạo đức học: “Nhân chi sơ, tính bản thiện...”
còn bên kia là vị Phó tiến sĩ với gương mặt rạng rỡ và những cô Cử tương
lai với máy ghi âm và ghi hình, ti vi và máy vi tính và tất nhiên còn
có cả cuốn sách giáo khoa đẹp được mệnh danh là theo đường hướng giao
tiếp.
Nếu chúng ta thừa nhận rằng, phương pháp dạy học chữ Hán, và nói chung, phương pháp giáo dục cùng những phương tiện vật chất của nhà trường phong kiến xưa kia có nhiều nhược điểm và hạn chế; thì càng phải đi đến sự khẳng định rằng, sách học chữ Hán ngày xưa, mặc dù có nhiều thiếu sót như ta đã rõ, nhưng đã đạt được ưu điểm cơ bản là chuyển tải được cùng một lúc hai loại lượng thông tin: ngôn ngữ mới và văn hóa chung thời đại, nên đã có tác động tích cực tới qua trình dạy và học tiếng, nhờ sự tác động tích tương hỗ qua lại của hai loại thông tin ấy trong quá trình tâm lý nhận thức ở người học. Không hiểu như vậy, chúng ta không giải thích được đầy đủ, đúng đắn sự thành công to lớn của người xưa trong việc học chữ Hán và để đi đến chỗ chỉ ca ngợi một bề tinh thần khổ học của các vị đó. Như tâm lý học đã chỉ rõ, một sự khổ học chỉ bằng cái ý trí trần trụi, không chứa trong nó sức mạnh tổng hợp của toàn bộ đời sống tâm lý đó là chủ thể gắn liền với những tài liệu học tập mang lượng thông tin lớn có sức kích thích mạnh về trí tuệ và tâm hồn người học chữ, thì không bao giờ đạt được kết quả khả quan.
Chính vì lý đó, mà chúng ta phải để tâm nghiên cứu kinh nghiệm của người xưa như đầu đề bài viết nêu lên. Chúng ta đang tiếp cận, kế thừa kinh nghiệm đó. Nhưng ở đây có điều chúng ta cần nhớ rõ, kế thừa không có nghĩa là lặp lại, bởi lẽ hoàn cảnh là một nhân tố tạo nên nó luôn luôn biến đổi. Hơn thế, một kinh nghiệm càng lớn đã thuộc về lịch sử, càng gắn chặt với hoàn cảnh của nó. Trong trường hợp đó kế thừa là sự lặp lại chẳng những không được gì thêm mà còn có thể bị mất mát.
Trước khi đi sâu vào phân tích, đánh giá vai trò của lượng thông tin văn hóa chung thời đại trong sách học chữ Hán của ông cha ta xưa kia, chúng tôi muốn được nói một đôi điều sau đây.
Theo thói quen lâu nay đã có ở mọi người, chúng tôi gọi việc học ngoại ngữ phương Bắc ngày xưa của cha ông ta là học chữ Hán. Cách gọi đó rất ước lệ để chỉ hiện tượng, cha ông nắm ngôn ngữ viết và chữ viết của người khác, còn ngữ âm của thứ tiếng đó thì đã được Việt hóa. Nắm được thứ ngôn ngữ này như thế, người xưa có thể đọc hiểu sách của thánh hiền, có thể thưởng thức và sáng tác văn thơ, giao dịch hành chính, ghi chép khoa học, nhưng trong giao tiếp hàng ngày thì lại dùng tiếng mẹ đẻ, tất nhiên có hiện tượng đan cài vào văn bản những thành ngữ, những đoạn câu chữ Hán. Sở dĩ như vậy vì tiếng Hán mà cha ông ta học là thứ văn ngôn tức một ngôn ngữ văn học thời cổ đại của Trung Quốc đã rất xa với tiếng nói hàng ngày. Tình hình đó làm cho cách dạy - học chữ Hán của người xưa không có sách dạy những câu nói bình thường trong tình huống thường gặp của đời sống sinh hoạt hàng ngày. Cuốn sách vỡ lòng chữ Hán cho trẻ tóc còn để chỏm đã là cuốn sách dạy đạo lý là vì vậy: cuốn Tam tự kinh là một ví dụ rất điển hình.
Với những bộ sách chữ Hán đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại đương thời, cha ông ta đã rút ngắn rất nhiều giai đoạn học tiếng để chuyển nhanh sang giai đoạn học bằng tiếng (tức chuyển nhanh giai đoạn ngôn ngữ là đối tượng của nhận thức sang giai đoạn ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức) trong quá trình nắm ngôn ngữ mới. Chỉ riêng cái lôgích đó thôi cũng đủ làm cho các nhà khoa học giáo dục trẻ ngày nay không có điều kiện điểm qua hàng ngàn sách học chữ Hán cũng có thể bước đầu nhận định cuốn Tam thiên tự văn giải nghĩa, một cuốn từ điển Hán Việt được làm thành vè để cho học trò mới bắt đầu cắp sách đến trường dễ nhớ nghĩa của từng từ riêng lẻ chiếm một tỉ lệ không đáng kể(2). Và có lẽ nhà khoa học trẻ khi chưa kịp nhận ra cái lôgích đó, chỉ cần lấy cuốn Tam tự kinh, cuốn sách giáo khoa vỡ lòng chữ Hán ngày xưa cũng đủ nhận ra cái đặc tính nổi bật của sách giáo khoa thực hành ngoại ngữ của ông cha ta.
Còn một điều rất quan trọng nữa. Những sách chữ Hán do người Hán viết như Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử (tức Tứ thư) và Kinh thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân thu (tức Ngũ Kinh ) cùng một số sách khác là những tác phẩm văn chương hay khoa học có cần tính đến trong luận chứng của chúng ta không ? Rất cần. Bình thường những sách đó chỉ có một chức năng chuyển tải thông tin văn hóa. Nhưng khi đến tay người Việt Nam, chúng ta đã thực sự có một chức năng mới thường xuyên, hệ thống, lâu dài và có hiệu quả: chức năng dạy học ngôn ngữ mới. Đưa lại một chức năng mới cho một công cụ tất nhiên phải đồng thời tạo ra phương pháp sử dụng và hệ thống thao tác vận hành nó. Tất cả những cái đó cần được ghi nhận là một thành quả tư tưởng của người xưa. Cách dạy và học ngoại ngữ như thế đáng để ta nghiên cứu, trước hết là về mặt đánh giá vai trò nội dung thông tin văn hóa và gắn liền với sự đánh giá đó là thái độ coi trọng nội dung văn bản ở người học.
Khi khai thác di sản tư tưởng lớn của người xưa trong sự nghiệp dạy học ngoại ngữ nói riêng cũng như sự nghiệp nâng cao dân trí nói chung, ta cần phải tính đến các tác phẩm trên, ít nhất ta xem đó là giá trị của một bằng chứng văn bản cho một tư tưởng về phương pháp mà ta muốn kế thừa. Điều chúng tôi muốn được lưu ý trước là phạm vi sách chữ Hán được bàn tới trong bài viết này. Trong thực tế quả có nhiều sách dạy học chữ Hán, nhất là vào cuối thế kỷ này khi khoa học ngôn ngữ đã phát triển và được vận dụng nhiều vào việc dạy tiếng. Lúc các nhà Nho được đọc những trang sách chữ Hán có dấu chấm câu, cũng là lúc trên giá sách của các cụ không chỉ có Tứ thư, Ngũ kinh, mà còn có cả những chuyên khảo về tập làm văn, về lý luận văn học, về Hán học, về ngữ pháp được mua chính từ những hiệu sách của người Hoa ở các thành lớn. Vì vậy, chúng tôi muốn được giới hạn những sách dạy - học chữ Hán xưa ở chức năng làm bài khóa cho người học. Những sách chữ Hán như thế có cuốn do người Hán viết, có cuốn do người Việt viết. Chúng tôi chú ý tới loại sách bài khóa vì nó có nét nổi bật đặc thù là thường đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại, một nét đặc thù thể hiện một phương pháp dạy tiếng mà khoa học dạy ngoại ngữ hiện đại cần tiếp cận và kế thừa.
Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói đến là sách học chữ Hán với tư cách là sách giáo khoa thực hành ở giai đoạn nâng cao và hoàn thiện. Sau vài ba cuốn ở giai đoạn vỡ lòng mà nguời thông minh có thể thuộc lòng sau dăm bảy tháng học (còn người kém thông minh với cách dạy - học xoàng thì phải đến dăm ba năm mới nắm được), người học được cầm lấy các sách kinh điển như Luận ngữ, Kinh Thư trong Tứ thư, Ngũ kinh, loại bài khóa mới từ các sách này có tỷ trọng thông tin văn hóa chung thời đại trong đơn vị văn bản cao với những hình thức học tập mới đã thể hiện rõ những tác dụng của nó.
Một hình thức học tập phổ biến của loại bài khóa này là nghe sách. Nay nếu đem diễn lại cách học này thì chắc hẳn ta không tránh khỏi sự buồn cười. Thầy nghê nga đọc câu chữ Hán, trò nghê nga lời dịch. Việc làm như thế trong lớp học chữ Hán xưa kia vào buổi hưng thịnh của đạo Nho thì lại nghiêm túc, long trọng, có khi còn dường như gợi lên không khí thiêng liêng của hơi thở thánh hiền. (trong lớp học chung, cũng như phòng học riêng thường người ta còn thắp hương kia mà. Đầu tóc, quần áo, tư thế ngồi của cậu học trò trước trang sách chữ Hán cũng có những nét đẹp truyền thống đặc trưng).Tâm lý học hoàn toàn có thể nói rõ về ảnh hưởng của những yếu tố bên ngoài như thế đối với tâm trí người học. ảnh hưởng ấy thường chỉ có thể nảy sinh từ hơi thở của loại bài khóa mà chúng ta đang muốn tìm hiểu.
Lượng thông tin văn hóa chung thời đại trong sách giáo khoa thực hành chữ Hán, giá trị của bài khóa, thái độ coi trọng văn bản, kết quả học tập có thể có được để ta đáng quan tâm là vì vậy. Ngày nay ta không thể và cũng chẳng cần lặp lại nguyên vẹn một phong cách dạy học như thế. Nhưng mà cái ta cần và có thể kế thừa là tư tưởng về giá trị bài khóa, một tư tưởng sớm muộn cũng đưa đến cuộc cách mạng trong dạy học ngoại ngữ.
Một hình thức học tập chữ Hán cao hơn với bài khóa là bình văn, bình thơ: tác phẩm văn chương ưu tú được thầy trịnh trọng đọc lên từng đoạn, từng câu rồi chậm rãi, nghiêm nghị phân tích, đánh giá những điều tâm đắc, thường theo hướng mở rộng, khơi sâu ý tưởng của tác giả với phương pháp đi từ nội dung đến hình thức là chủ yếu. ở những lớp học cao, học trò lần lượt được thực tập làm công việc đó của thầy.Trong cái im lặng có thể lắng đọng ý văn, tứ thơ, trong cái trang nghiêm đến có hơi thở của sự thiêng liêng, trí tuệ thâm thúy, uyên bác, tâm hồn nhạy cảm, tài hoa của nhà Nho ghi nhận và hấp thụ được tinh hoa từ tác phẩm. Những buổi bình văn như thế chỉ ở một số trường nổi tiếng mới có, và cũng chỉ thỉnh thoảng mới tổ chức được. Đó là một hình thức học đặc trưng của nhà trường chữ Hán ở buổi hưng thịnh nhất của đạo Nho. Nó không phải là một giờ lên lớp quen thuộc, cũng không phải là một buổi sinh hoạt câu lạc bộ ồn ào, và tất nhiên cũng chẳng giống một hội thảo khoa học nặng nề như chúng ta tưởng bằng vốn kinh nghiệm của ngày hôm nay. Nó là bình văn, một hình thức thấm nhuần, chiếm lĩnh tác phẩm văn chương, tức bài khóa của người xưa, mà ngày nay khoa học dạy ngoại ngữ không thể lặp lại được, nhưng hoàn toàn cần phải kế thừa, trước hết là kế thừa ở tư tưởng về giá trị của bài khóa, một tư tưởng mà công trình nghiên cứu nhiều năm của chúng tôi muốn khẳng định.
Tất nhiên, những bài khóa và kèm theo đó là cách dạy- học riêng trên đây của nhà trường chữ Hán xưa kia không phải bao giờ cũng đẹp như chúng tôi muốn miêu tả, mà lắm khi nó xấu, xấu đến mức chẳng muốn gợi lại làm gì, một cái xấu đã được nhà khoa học đánh giá, nhà văn miêu tả bằng đủ những tính từ nghèo nàn, khô khan, trống rỗng, vô nghĩa,...thậm chí cả như “đáng hổ thẹn” nữa. Nhưng sự nghiệp nâng cao dân trí đang đòi hỏi thế hệ chúng ta phải đi tìm cho được cái quí giá có thực của quá khứ từ Chu Văn An (? - 1370), từ Nguyễn Trãi (1380-1442), từ Lê Quý Đôn (1726-1784)..., cái quý giá có bằng chứng hẳn hoi, tức những pho sách đồ sộ của người xưa hiện còn trước mắt chúng ta trên những giá sách để không phải dại dột lặp lại một cách máy móc mà là kế thừa một cách sáng tạo từ một tư tưởng về phương pháp tạo bài khóa học tiếng.
Tất cả những điều chúng tôi vừa nói trên đây đều muốn làm rõ khái niệm sách học chữ Hán với chức năng cung cấp những bài khóa dù là của người Việt hay của người Hán ở thời kỳ hưng thịnh của đạo Nho là chủ yếu. Khái niệm học chữ Hán cũng được hiểu theo một nghĩa đầy đủ: học ở giai đoạn vỡ lòng (giai đoạn học tiếng thuần túy) học ở giai đoạn chữ Hán là công cụ để nhận thức, học ở giai đoạn chữ Hán là đối tượng nghiên cứu, học trong nội khóa và cả ngoại khóa với những tác phẩm văn chương cũng như khoa học có giá trị lớn.
Sự vật và hiện tượng nào của cuộc sống cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực của chúng.Với những sự vật và hiện tượng đã thuộc về quá khứ mà chúng ta muốn vượt qua và đã vượt qua từ lâu, tìm cho được mặt tích cực, hay nói đúng hơn, phát hiện cho được yếu tố tích cực của chúng là việc khó, rất khó. Nhưng nếu tìm thấy, phát hiện được thì lại vô cùng đáng quý, đáng quý không phải vì giá trị của một thứ đồ cổ, mà là ở chân lý khoa học đã được thực tiễn lịch sử xác nhận, một sự xác nhận thực nghiệm khó thay thế được. Toàn bộ sự phân tích, chứng minh của chúng tôi sau đây đều nhằm vào chỗ làm sáng tỏ giá trị của bài khóa chữ Hán dù nó tồn tại dưới bất cứ hình thức nào, ở giai đoạn nào của người học. Tác giả bài viết này xin phép lướt qua việc miêu tả, phân tích chân dung, tính cách của việc dạy học chữ Hán trong giai đoạn lịch sử phát triển của nó.
Nói một cách khác, nội dung tư tưởng tốt hay xấu, tiến bộ hay lạc hậu trong các sách chữ Hán của người xưa, một mặt nó không thuộc nhiệm vụ của bài viết này, mặt khác nó đã được nhiều công trình nghiên cứu lớn có giá trị giải quyết từ lâu, và cũng được nhiều người, đặc biệt là các nhà trí thức lớn với thái độ vừa phê phán, vừa kế thừa rất tốt ở trình độ quan điểm, lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê Nin. Nhiệm vụ của bài viết này là muốn góp phần với nhiều người khác khẳng định ảnh hưởng của sự đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại trong bài viết đối với quá trình nắm vững ngôn ngữ mới. Việc làm này cũng giống hệt như việc nghiên cứu nắm vững tính năng của một công cụ lao động có năng suất cao nhờ một đặc tính cấu tạo nào đó.
Với sách học chữ Hán được đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại, người xưa đạt được cùng một lúc trong cùng một hoạt động hai mục đích lớn lao của việc nâng cao dân trí: nắm ngôn ngữ mới và văn hóa chung.
Những bộ sách học chữ Hán đó của người Hán hay của người Việt Nam, ngày nay, đã đi vào lịch sử ở dạng nguyên bản. Hiện nay, đối với nhiều người, chúng chỉ có thể được nhận diện ở một số bản dịch. Vì vậy, để chúng ta có thể cùng nhau nhìn nhận sâu hơn tính chất đong đầy nén chặt lượng thông tin của chúng, chúng tôi xin được dừng lại một chút để nói về sự hình thành và tồn tại một cách tất yếu của tính chất này. Tác phẩm bằng ngôn ngữ nói cũng như bằng ngôn ngữ viết của người xưa muốn trở thành tài sản tinh thần của cộng đồng, phải cực kỳ ngắn gọn và súc tích, nghĩa là nó phải có lượng thông tin lớn trong một đơn vị văn bản; bởi lẽ, thì giờ của người sản xuất nông nghiệp không phải chặt đến từng giây phút như thì giờ của người sản xuất công nghiệp hiện đại; nhưng những phương tiện giúp cho sự ghi nhớ tài liệu như máy ghi tiếng, ghi hình không những chưa có, mà ngay giấy bút, phương tiện nhân bản cũng thô sơ và hiếm hoi hơn rất nhiều so với hiện nay. Văn bản ngắn gọn súc tích; đồng thời lại phải hấp dẫn; do đó các phương tiện tu từ, mỹ từ phải được vận dụng triệt để, nhất là trong văn viết. Cũng chính vì vậy, văn viết ngày càng xa cách văn nói. Người xưa thích viết văn có điển cố, chuộng đọc văn biền ngẫu, làm thơ với số câu, số chữ rất hạn chế là vì thế. Điển cố không phải là cái gì khác mà chính là một sự mã hóa lại một sự tích, một câu chuyện dài trong vài từ ngữ, tức một sự rút gọn văn bản một cách đặc biệt, để dồn nén thông tin, để kích thích suy nghĩ, gây cảm xúc mạnh hơn bình thường cho người tiếp nhận nó. Văn biền ngẫu vốn không phải là trò chơi sắp chữ, mà là nghệ thuật tạo nhạc điệu cho lời văn, là thủ thuật đối để nhấn mạnh một ý, để khuôn lời lại trong khi người nói có thể rông dài. Thơ Đường thể thất ngôn bát cú đã từng thịnh hành, vốn không phải là một trò tiểu xảo để thi thố tài nghệ ngôn từ với vần trắc bằng trong số câu, số chữ ít ỏi như vậy mà là khuôn vàng thước ngọc của sự biểu đạt theo yêu cầu đong đầy nén chặt lượng thông tin, để tiết kiệm lời để lợi cho trí nhớ. Dĩ nhiên, một cách thức hành động nào cũng có hai mặt lợi hại của nó; mặt hại sẽ bị lộ ra khi nó bị lạm dụng, và điều đó có thể dẫn đến chỗ nó bị từ bỏ.
Song song với sự hình thành và tồn tại đặc tính trên đây của nghệ thuật biểu đạt là thói quen tiếp nhận nó của cộng đồng người đông đảo, những tác giả của ca dao, tục ngữ, những tác phẩm vốn không bao giờ phạm lỗi phung phí ngôn từ. Sách của người Hán viết ra chịu sự chi phối ấy của sức mạnh tâm lý xã hội đương thời. Người Việt học sách đó rồi lại viết sách ra cho người mình trong một hoàn cảnh xã hội tương tự, nên sách cũng mang đặc tính ấy.
Mặt khác, nội dung văn bản tức lượng thông tin văn hóa chung thời đại là những tri thức kỹ năng được hình thành trong một quá trình lâu dài trong cả trường kỳ phát triển chậm chạp, rất ít biến đổi của xã hội phong kiến đủ để kết tinh đến mức người viết có thể đưa nó vào sách một cách không khó khăn dưới một hình thức hết sức cô đọng. Văn trong sách chữ Hán của người xưa, khi bàn về những vấn đề xã hội hầu hết như những câu châm ngôn. Những câu châm ngôn ấy khi nói về nhân tình thế thái có thể đạt tới giá trị trường tồn, để rồi còn có những mẩu chuyện minh họa cũng có giá trị như thế. Những mẩu chuyện mà ta đọc trong Cổ học tinh hoa đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Có nhiều mẩu chuyện có dạng thức một truyện ngắn mang nội dung luân lý, nhưng văn bản dồn nén đến mức như một lời giáo huấn.
Sách học chữ Hán của người xưa ở giai đoạn điển hình như ta đã lựa chọn ở trên, ngay cuốn sách vỡ lòng như cuốn Tam tự kinh đã đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại. Càng cho trình độ cao hơn, lượng thông tin đó càng lớn, lớn đến mức chức năng dạy chữ của nó vốn được đặt song song với chức năng nâng cao văn hóa chung thời đại theo cách nói của chúng ta ngày nay, bị lùi lại phía sau. Phương châm tiên học lễ hậu học văn, nguyên lý văn dĩ tải đạo của nhà trường phong kiến trước hết được thấm nhuần vào từng câu chữ của những trang sách giáo khoa được dùng làm bài khóa.
Việc lấy những trang sách kinh điển mang nặng nội dung khoa học hay giầu tính văn chương làm trang sách giáo khoa thực hành cho người học tiếng ở trình độ cao không khó lắm và dễ hiểu đối với nhiều người. Nhưng việc dám biên soạn dám sử dụng một cuốn sách giáo khoa vỡ lòng như cuốn Tam tự kinh thì khoa học dạy ngoại ngữ hiện đại hôm nay phải suy nghĩ nhiều lắm.Chưa một thế hệ nhà nho nào từ chối cuốn sách giáo khoa đó. Kết quả học tập tốt đẹp với một cuốn sách như thế đã được lịch sử chứng minh.
Tâm lý học hiện đại có thể bàn gì về điều này?
Quy luật đời sống tâm lý là một thể thống nhất toàn vẹn của nhận thức, tình cảm và ý chí, của quá trình, trạng thái và thuộc tính, của các nhóm thuộc tính (khí chất và tính cách, xu hướng và năng lực) là quy luật chung nhất, lớn nhất được vận dụng khi ta muốn hiểu về cấu trúc con người, cũng như muốn biết rõ về từng hoạt động tâm lý của nó. Ta hãy nói về quy luật này trong việc học ngoại ngữ. Bài khóa giàu lượng thông tin văn hóa chung thời đại đối với những người có nhu cầu và tình cảm, hứng thú và động cơ ứng với lượng thông tin ấy sẽ tác động không chỉ lên bề mặt của các quá trình nhận thức, mà còn đụng đến dấy lên mối liên hệ, gây chấn động đến toàn bộ đời sống tâm lý của nó. Nhờ thế, lượng thông tin ấy sẽ được tri giác, được ghi nhớ, được suy nghĩ, được tưởng tượng, được cảm xúc mạnh hơn để kết quả trong tâm hồn, trí tuệ của người đọc được nhiều hơn. Và cũng với lượng thông tin ấy, ngôn ngữ mới chuyển tải nó cũng được hấp thụ.
Trong phạm vi bài viết này, ở đề mục này, chúng tôi chỉ nói đến hành động trí nhớ trong toàn bộ hoạt động tâm lý của cá nhân. Trí nhớ hiện diện trong mọi hoạt động của con người, nhưng nó chỉ là một trong hàng chục hiện tượng tâm lý khác. Ngay trong nhận thức, thì nó cũng chỉ là một trong 6 quá trình tâm lý khác, nó ở cạnh cảm giác và tri giác, tư duy và tưởng tượng, chú ý và ngôn ngữ.
Nhiều người than phiền trí nhớ mình giảm sút quá, nên khó nhớ và dễ quên nhiều điều phải ghi nhớ, nhất là trong việc học ngoại ngữ. Không ít người, trong đó có cả các chuyên gia dạy tiếng, chưa đánh giá đúng mức ảnh hưởng của nội dung bài khóa đối với thực tiễn đời sống thì vẫn luôn luôn chỉ rõ điều đó. Vì thế, vấn đề đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại theo một hệ thống nào đó cho bài khóa ngoại ngữ cho đến nay vẵn chưa được đề lên thành nguyên tắc lớn trong khoa học dạy ngôn ngữ mới.
Nhưng trong thực tiễn dạy học chữ Hán, do những điều kiện lịch sử đặc thù của nó, nguyên tắc đó đã được thể hiện một cách tự nhiên, và đã đem lại hiệu quả rất lớn cho người học.
Dưới đây chúng ta hãy phân tích việc ghi nhớ bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt ở các nhà Nho và cũng là ở mọi người để giải quyết một phần vấn đề vừa được nêu lên.
Nếu chúng ta thừa nhận rằng, phương pháp dạy học chữ Hán, và nói chung, phương pháp giáo dục cùng những phương tiện vật chất của nhà trường phong kiến xưa kia có nhiều nhược điểm và hạn chế; thì càng phải đi đến sự khẳng định rằng, sách học chữ Hán ngày xưa, mặc dù có nhiều thiếu sót như ta đã rõ, nhưng đã đạt được ưu điểm cơ bản là chuyển tải được cùng một lúc hai loại lượng thông tin: ngôn ngữ mới và văn hóa chung thời đại, nên đã có tác động tích cực tới qua trình dạy và học tiếng, nhờ sự tác động tích tương hỗ qua lại của hai loại thông tin ấy trong quá trình tâm lý nhận thức ở người học. Không hiểu như vậy, chúng ta không giải thích được đầy đủ, đúng đắn sự thành công to lớn của người xưa trong việc học chữ Hán và để đi đến chỗ chỉ ca ngợi một bề tinh thần khổ học của các vị đó. Như tâm lý học đã chỉ rõ, một sự khổ học chỉ bằng cái ý trí trần trụi, không chứa trong nó sức mạnh tổng hợp của toàn bộ đời sống tâm lý đó là chủ thể gắn liền với những tài liệu học tập mang lượng thông tin lớn có sức kích thích mạnh về trí tuệ và tâm hồn người học chữ, thì không bao giờ đạt được kết quả khả quan.
Chính vì lý đó, mà chúng ta phải để tâm nghiên cứu kinh nghiệm của người xưa như đầu đề bài viết nêu lên. Chúng ta đang tiếp cận, kế thừa kinh nghiệm đó. Nhưng ở đây có điều chúng ta cần nhớ rõ, kế thừa không có nghĩa là lặp lại, bởi lẽ hoàn cảnh là một nhân tố tạo nên nó luôn luôn biến đổi. Hơn thế, một kinh nghiệm càng lớn đã thuộc về lịch sử, càng gắn chặt với hoàn cảnh của nó. Trong trường hợp đó kế thừa là sự lặp lại chẳng những không được gì thêm mà còn có thể bị mất mát.
Trước khi đi sâu vào phân tích, đánh giá vai trò của lượng thông tin văn hóa chung thời đại trong sách học chữ Hán của ông cha ta xưa kia, chúng tôi muốn được nói một đôi điều sau đây.
Theo thói quen lâu nay đã có ở mọi người, chúng tôi gọi việc học ngoại ngữ phương Bắc ngày xưa của cha ông ta là học chữ Hán. Cách gọi đó rất ước lệ để chỉ hiện tượng, cha ông nắm ngôn ngữ viết và chữ viết của người khác, còn ngữ âm của thứ tiếng đó thì đã được Việt hóa. Nắm được thứ ngôn ngữ này như thế, người xưa có thể đọc hiểu sách của thánh hiền, có thể thưởng thức và sáng tác văn thơ, giao dịch hành chính, ghi chép khoa học, nhưng trong giao tiếp hàng ngày thì lại dùng tiếng mẹ đẻ, tất nhiên có hiện tượng đan cài vào văn bản những thành ngữ, những đoạn câu chữ Hán. Sở dĩ như vậy vì tiếng Hán mà cha ông ta học là thứ văn ngôn tức một ngôn ngữ văn học thời cổ đại của Trung Quốc đã rất xa với tiếng nói hàng ngày. Tình hình đó làm cho cách dạy - học chữ Hán của người xưa không có sách dạy những câu nói bình thường trong tình huống thường gặp của đời sống sinh hoạt hàng ngày. Cuốn sách vỡ lòng chữ Hán cho trẻ tóc còn để chỏm đã là cuốn sách dạy đạo lý là vì vậy: cuốn Tam tự kinh là một ví dụ rất điển hình.
Với những bộ sách chữ Hán đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại đương thời, cha ông ta đã rút ngắn rất nhiều giai đoạn học tiếng để chuyển nhanh sang giai đoạn học bằng tiếng (tức chuyển nhanh giai đoạn ngôn ngữ là đối tượng của nhận thức sang giai đoạn ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức) trong quá trình nắm ngôn ngữ mới. Chỉ riêng cái lôgích đó thôi cũng đủ làm cho các nhà khoa học giáo dục trẻ ngày nay không có điều kiện điểm qua hàng ngàn sách học chữ Hán cũng có thể bước đầu nhận định cuốn Tam thiên tự văn giải nghĩa, một cuốn từ điển Hán Việt được làm thành vè để cho học trò mới bắt đầu cắp sách đến trường dễ nhớ nghĩa của từng từ riêng lẻ chiếm một tỉ lệ không đáng kể(2). Và có lẽ nhà khoa học trẻ khi chưa kịp nhận ra cái lôgích đó, chỉ cần lấy cuốn Tam tự kinh, cuốn sách giáo khoa vỡ lòng chữ Hán ngày xưa cũng đủ nhận ra cái đặc tính nổi bật của sách giáo khoa thực hành ngoại ngữ của ông cha ta.
Còn một điều rất quan trọng nữa. Những sách chữ Hán do người Hán viết như Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử (tức Tứ thư) và Kinh thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân thu (tức Ngũ Kinh ) cùng một số sách khác là những tác phẩm văn chương hay khoa học có cần tính đến trong luận chứng của chúng ta không ? Rất cần. Bình thường những sách đó chỉ có một chức năng chuyển tải thông tin văn hóa. Nhưng khi đến tay người Việt Nam, chúng ta đã thực sự có một chức năng mới thường xuyên, hệ thống, lâu dài và có hiệu quả: chức năng dạy học ngôn ngữ mới. Đưa lại một chức năng mới cho một công cụ tất nhiên phải đồng thời tạo ra phương pháp sử dụng và hệ thống thao tác vận hành nó. Tất cả những cái đó cần được ghi nhận là một thành quả tư tưởng của người xưa. Cách dạy và học ngoại ngữ như thế đáng để ta nghiên cứu, trước hết là về mặt đánh giá vai trò nội dung thông tin văn hóa và gắn liền với sự đánh giá đó là thái độ coi trọng nội dung văn bản ở người học.
Khi khai thác di sản tư tưởng lớn của người xưa trong sự nghiệp dạy học ngoại ngữ nói riêng cũng như sự nghiệp nâng cao dân trí nói chung, ta cần phải tính đến các tác phẩm trên, ít nhất ta xem đó là giá trị của một bằng chứng văn bản cho một tư tưởng về phương pháp mà ta muốn kế thừa. Điều chúng tôi muốn được lưu ý trước là phạm vi sách chữ Hán được bàn tới trong bài viết này. Trong thực tế quả có nhiều sách dạy học chữ Hán, nhất là vào cuối thế kỷ này khi khoa học ngôn ngữ đã phát triển và được vận dụng nhiều vào việc dạy tiếng. Lúc các nhà Nho được đọc những trang sách chữ Hán có dấu chấm câu, cũng là lúc trên giá sách của các cụ không chỉ có Tứ thư, Ngũ kinh, mà còn có cả những chuyên khảo về tập làm văn, về lý luận văn học, về Hán học, về ngữ pháp được mua chính từ những hiệu sách của người Hoa ở các thành lớn. Vì vậy, chúng tôi muốn được giới hạn những sách dạy - học chữ Hán xưa ở chức năng làm bài khóa cho người học. Những sách chữ Hán như thế có cuốn do người Hán viết, có cuốn do người Việt viết. Chúng tôi chú ý tới loại sách bài khóa vì nó có nét nổi bật đặc thù là thường đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại, một nét đặc thù thể hiện một phương pháp dạy tiếng mà khoa học dạy ngoại ngữ hiện đại cần tiếp cận và kế thừa.
Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói đến là sách học chữ Hán với tư cách là sách giáo khoa thực hành ở giai đoạn nâng cao và hoàn thiện. Sau vài ba cuốn ở giai đoạn vỡ lòng mà nguời thông minh có thể thuộc lòng sau dăm bảy tháng học (còn người kém thông minh với cách dạy - học xoàng thì phải đến dăm ba năm mới nắm được), người học được cầm lấy các sách kinh điển như Luận ngữ, Kinh Thư trong Tứ thư, Ngũ kinh, loại bài khóa mới từ các sách này có tỷ trọng thông tin văn hóa chung thời đại trong đơn vị văn bản cao với những hình thức học tập mới đã thể hiện rõ những tác dụng của nó.
Một hình thức học tập phổ biến của loại bài khóa này là nghe sách. Nay nếu đem diễn lại cách học này thì chắc hẳn ta không tránh khỏi sự buồn cười. Thầy nghê nga đọc câu chữ Hán, trò nghê nga lời dịch. Việc làm như thế trong lớp học chữ Hán xưa kia vào buổi hưng thịnh của đạo Nho thì lại nghiêm túc, long trọng, có khi còn dường như gợi lên không khí thiêng liêng của hơi thở thánh hiền. (trong lớp học chung, cũng như phòng học riêng thường người ta còn thắp hương kia mà. Đầu tóc, quần áo, tư thế ngồi của cậu học trò trước trang sách chữ Hán cũng có những nét đẹp truyền thống đặc trưng).Tâm lý học hoàn toàn có thể nói rõ về ảnh hưởng của những yếu tố bên ngoài như thế đối với tâm trí người học. ảnh hưởng ấy thường chỉ có thể nảy sinh từ hơi thở của loại bài khóa mà chúng ta đang muốn tìm hiểu.
Lượng thông tin văn hóa chung thời đại trong sách giáo khoa thực hành chữ Hán, giá trị của bài khóa, thái độ coi trọng văn bản, kết quả học tập có thể có được để ta đáng quan tâm là vì vậy. Ngày nay ta không thể và cũng chẳng cần lặp lại nguyên vẹn một phong cách dạy học như thế. Nhưng mà cái ta cần và có thể kế thừa là tư tưởng về giá trị bài khóa, một tư tưởng sớm muộn cũng đưa đến cuộc cách mạng trong dạy học ngoại ngữ.
Một hình thức học tập chữ Hán cao hơn với bài khóa là bình văn, bình thơ: tác phẩm văn chương ưu tú được thầy trịnh trọng đọc lên từng đoạn, từng câu rồi chậm rãi, nghiêm nghị phân tích, đánh giá những điều tâm đắc, thường theo hướng mở rộng, khơi sâu ý tưởng của tác giả với phương pháp đi từ nội dung đến hình thức là chủ yếu. ở những lớp học cao, học trò lần lượt được thực tập làm công việc đó của thầy.Trong cái im lặng có thể lắng đọng ý văn, tứ thơ, trong cái trang nghiêm đến có hơi thở của sự thiêng liêng, trí tuệ thâm thúy, uyên bác, tâm hồn nhạy cảm, tài hoa của nhà Nho ghi nhận và hấp thụ được tinh hoa từ tác phẩm. Những buổi bình văn như thế chỉ ở một số trường nổi tiếng mới có, và cũng chỉ thỉnh thoảng mới tổ chức được. Đó là một hình thức học đặc trưng của nhà trường chữ Hán ở buổi hưng thịnh nhất của đạo Nho. Nó không phải là một giờ lên lớp quen thuộc, cũng không phải là một buổi sinh hoạt câu lạc bộ ồn ào, và tất nhiên cũng chẳng giống một hội thảo khoa học nặng nề như chúng ta tưởng bằng vốn kinh nghiệm của ngày hôm nay. Nó là bình văn, một hình thức thấm nhuần, chiếm lĩnh tác phẩm văn chương, tức bài khóa của người xưa, mà ngày nay khoa học dạy ngoại ngữ không thể lặp lại được, nhưng hoàn toàn cần phải kế thừa, trước hết là kế thừa ở tư tưởng về giá trị của bài khóa, một tư tưởng mà công trình nghiên cứu nhiều năm của chúng tôi muốn khẳng định.
Tất nhiên, những bài khóa và kèm theo đó là cách dạy- học riêng trên đây của nhà trường chữ Hán xưa kia không phải bao giờ cũng đẹp như chúng tôi muốn miêu tả, mà lắm khi nó xấu, xấu đến mức chẳng muốn gợi lại làm gì, một cái xấu đã được nhà khoa học đánh giá, nhà văn miêu tả bằng đủ những tính từ nghèo nàn, khô khan, trống rỗng, vô nghĩa,...thậm chí cả như “đáng hổ thẹn” nữa. Nhưng sự nghiệp nâng cao dân trí đang đòi hỏi thế hệ chúng ta phải đi tìm cho được cái quí giá có thực của quá khứ từ Chu Văn An (? - 1370), từ Nguyễn Trãi (1380-1442), từ Lê Quý Đôn (1726-1784)..., cái quý giá có bằng chứng hẳn hoi, tức những pho sách đồ sộ của người xưa hiện còn trước mắt chúng ta trên những giá sách để không phải dại dột lặp lại một cách máy móc mà là kế thừa một cách sáng tạo từ một tư tưởng về phương pháp tạo bài khóa học tiếng.
Tất cả những điều chúng tôi vừa nói trên đây đều muốn làm rõ khái niệm sách học chữ Hán với chức năng cung cấp những bài khóa dù là của người Việt hay của người Hán ở thời kỳ hưng thịnh của đạo Nho là chủ yếu. Khái niệm học chữ Hán cũng được hiểu theo một nghĩa đầy đủ: học ở giai đoạn vỡ lòng (giai đoạn học tiếng thuần túy) học ở giai đoạn chữ Hán là công cụ để nhận thức, học ở giai đoạn chữ Hán là đối tượng nghiên cứu, học trong nội khóa và cả ngoại khóa với những tác phẩm văn chương cũng như khoa học có giá trị lớn.
Sự vật và hiện tượng nào của cuộc sống cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực của chúng.Với những sự vật và hiện tượng đã thuộc về quá khứ mà chúng ta muốn vượt qua và đã vượt qua từ lâu, tìm cho được mặt tích cực, hay nói đúng hơn, phát hiện cho được yếu tố tích cực của chúng là việc khó, rất khó. Nhưng nếu tìm thấy, phát hiện được thì lại vô cùng đáng quý, đáng quý không phải vì giá trị của một thứ đồ cổ, mà là ở chân lý khoa học đã được thực tiễn lịch sử xác nhận, một sự xác nhận thực nghiệm khó thay thế được. Toàn bộ sự phân tích, chứng minh của chúng tôi sau đây đều nhằm vào chỗ làm sáng tỏ giá trị của bài khóa chữ Hán dù nó tồn tại dưới bất cứ hình thức nào, ở giai đoạn nào của người học. Tác giả bài viết này xin phép lướt qua việc miêu tả, phân tích chân dung, tính cách của việc dạy học chữ Hán trong giai đoạn lịch sử phát triển của nó.
Nói một cách khác, nội dung tư tưởng tốt hay xấu, tiến bộ hay lạc hậu trong các sách chữ Hán của người xưa, một mặt nó không thuộc nhiệm vụ của bài viết này, mặt khác nó đã được nhiều công trình nghiên cứu lớn có giá trị giải quyết từ lâu, và cũng được nhiều người, đặc biệt là các nhà trí thức lớn với thái độ vừa phê phán, vừa kế thừa rất tốt ở trình độ quan điểm, lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê Nin. Nhiệm vụ của bài viết này là muốn góp phần với nhiều người khác khẳng định ảnh hưởng của sự đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại trong bài viết đối với quá trình nắm vững ngôn ngữ mới. Việc làm này cũng giống hệt như việc nghiên cứu nắm vững tính năng của một công cụ lao động có năng suất cao nhờ một đặc tính cấu tạo nào đó.
Với sách học chữ Hán được đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại, người xưa đạt được cùng một lúc trong cùng một hoạt động hai mục đích lớn lao của việc nâng cao dân trí: nắm ngôn ngữ mới và văn hóa chung.
Những bộ sách học chữ Hán đó của người Hán hay của người Việt Nam, ngày nay, đã đi vào lịch sử ở dạng nguyên bản. Hiện nay, đối với nhiều người, chúng chỉ có thể được nhận diện ở một số bản dịch. Vì vậy, để chúng ta có thể cùng nhau nhìn nhận sâu hơn tính chất đong đầy nén chặt lượng thông tin của chúng, chúng tôi xin được dừng lại một chút để nói về sự hình thành và tồn tại một cách tất yếu của tính chất này. Tác phẩm bằng ngôn ngữ nói cũng như bằng ngôn ngữ viết của người xưa muốn trở thành tài sản tinh thần của cộng đồng, phải cực kỳ ngắn gọn và súc tích, nghĩa là nó phải có lượng thông tin lớn trong một đơn vị văn bản; bởi lẽ, thì giờ của người sản xuất nông nghiệp không phải chặt đến từng giây phút như thì giờ của người sản xuất công nghiệp hiện đại; nhưng những phương tiện giúp cho sự ghi nhớ tài liệu như máy ghi tiếng, ghi hình không những chưa có, mà ngay giấy bút, phương tiện nhân bản cũng thô sơ và hiếm hoi hơn rất nhiều so với hiện nay. Văn bản ngắn gọn súc tích; đồng thời lại phải hấp dẫn; do đó các phương tiện tu từ, mỹ từ phải được vận dụng triệt để, nhất là trong văn viết. Cũng chính vì vậy, văn viết ngày càng xa cách văn nói. Người xưa thích viết văn có điển cố, chuộng đọc văn biền ngẫu, làm thơ với số câu, số chữ rất hạn chế là vì thế. Điển cố không phải là cái gì khác mà chính là một sự mã hóa lại một sự tích, một câu chuyện dài trong vài từ ngữ, tức một sự rút gọn văn bản một cách đặc biệt, để dồn nén thông tin, để kích thích suy nghĩ, gây cảm xúc mạnh hơn bình thường cho người tiếp nhận nó. Văn biền ngẫu vốn không phải là trò chơi sắp chữ, mà là nghệ thuật tạo nhạc điệu cho lời văn, là thủ thuật đối để nhấn mạnh một ý, để khuôn lời lại trong khi người nói có thể rông dài. Thơ Đường thể thất ngôn bát cú đã từng thịnh hành, vốn không phải là một trò tiểu xảo để thi thố tài nghệ ngôn từ với vần trắc bằng trong số câu, số chữ ít ỏi như vậy mà là khuôn vàng thước ngọc của sự biểu đạt theo yêu cầu đong đầy nén chặt lượng thông tin, để tiết kiệm lời để lợi cho trí nhớ. Dĩ nhiên, một cách thức hành động nào cũng có hai mặt lợi hại của nó; mặt hại sẽ bị lộ ra khi nó bị lạm dụng, và điều đó có thể dẫn đến chỗ nó bị từ bỏ.
Song song với sự hình thành và tồn tại đặc tính trên đây của nghệ thuật biểu đạt là thói quen tiếp nhận nó của cộng đồng người đông đảo, những tác giả của ca dao, tục ngữ, những tác phẩm vốn không bao giờ phạm lỗi phung phí ngôn từ. Sách của người Hán viết ra chịu sự chi phối ấy của sức mạnh tâm lý xã hội đương thời. Người Việt học sách đó rồi lại viết sách ra cho người mình trong một hoàn cảnh xã hội tương tự, nên sách cũng mang đặc tính ấy.
Mặt khác, nội dung văn bản tức lượng thông tin văn hóa chung thời đại là những tri thức kỹ năng được hình thành trong một quá trình lâu dài trong cả trường kỳ phát triển chậm chạp, rất ít biến đổi của xã hội phong kiến đủ để kết tinh đến mức người viết có thể đưa nó vào sách một cách không khó khăn dưới một hình thức hết sức cô đọng. Văn trong sách chữ Hán của người xưa, khi bàn về những vấn đề xã hội hầu hết như những câu châm ngôn. Những câu châm ngôn ấy khi nói về nhân tình thế thái có thể đạt tới giá trị trường tồn, để rồi còn có những mẩu chuyện minh họa cũng có giá trị như thế. Những mẩu chuyện mà ta đọc trong Cổ học tinh hoa đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Có nhiều mẩu chuyện có dạng thức một truyện ngắn mang nội dung luân lý, nhưng văn bản dồn nén đến mức như một lời giáo huấn.
Sách học chữ Hán của người xưa ở giai đoạn điển hình như ta đã lựa chọn ở trên, ngay cuốn sách vỡ lòng như cuốn Tam tự kinh đã đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại. Càng cho trình độ cao hơn, lượng thông tin đó càng lớn, lớn đến mức chức năng dạy chữ của nó vốn được đặt song song với chức năng nâng cao văn hóa chung thời đại theo cách nói của chúng ta ngày nay, bị lùi lại phía sau. Phương châm tiên học lễ hậu học văn, nguyên lý văn dĩ tải đạo của nhà trường phong kiến trước hết được thấm nhuần vào từng câu chữ của những trang sách giáo khoa được dùng làm bài khóa.
Việc lấy những trang sách kinh điển mang nặng nội dung khoa học hay giầu tính văn chương làm trang sách giáo khoa thực hành cho người học tiếng ở trình độ cao không khó lắm và dễ hiểu đối với nhiều người. Nhưng việc dám biên soạn dám sử dụng một cuốn sách giáo khoa vỡ lòng như cuốn Tam tự kinh thì khoa học dạy ngoại ngữ hiện đại hôm nay phải suy nghĩ nhiều lắm.Chưa một thế hệ nhà nho nào từ chối cuốn sách giáo khoa đó. Kết quả học tập tốt đẹp với một cuốn sách như thế đã được lịch sử chứng minh.
Tâm lý học hiện đại có thể bàn gì về điều này?
Quy luật đời sống tâm lý là một thể thống nhất toàn vẹn của nhận thức, tình cảm và ý chí, của quá trình, trạng thái và thuộc tính, của các nhóm thuộc tính (khí chất và tính cách, xu hướng và năng lực) là quy luật chung nhất, lớn nhất được vận dụng khi ta muốn hiểu về cấu trúc con người, cũng như muốn biết rõ về từng hoạt động tâm lý của nó. Ta hãy nói về quy luật này trong việc học ngoại ngữ. Bài khóa giàu lượng thông tin văn hóa chung thời đại đối với những người có nhu cầu và tình cảm, hứng thú và động cơ ứng với lượng thông tin ấy sẽ tác động không chỉ lên bề mặt của các quá trình nhận thức, mà còn đụng đến dấy lên mối liên hệ, gây chấn động đến toàn bộ đời sống tâm lý của nó. Nhờ thế, lượng thông tin ấy sẽ được tri giác, được ghi nhớ, được suy nghĩ, được tưởng tượng, được cảm xúc mạnh hơn để kết quả trong tâm hồn, trí tuệ của người đọc được nhiều hơn. Và cũng với lượng thông tin ấy, ngôn ngữ mới chuyển tải nó cũng được hấp thụ.
Trong phạm vi bài viết này, ở đề mục này, chúng tôi chỉ nói đến hành động trí nhớ trong toàn bộ hoạt động tâm lý của cá nhân. Trí nhớ hiện diện trong mọi hoạt động của con người, nhưng nó chỉ là một trong hàng chục hiện tượng tâm lý khác. Ngay trong nhận thức, thì nó cũng chỉ là một trong 6 quá trình tâm lý khác, nó ở cạnh cảm giác và tri giác, tư duy và tưởng tượng, chú ý và ngôn ngữ.
Nhiều người than phiền trí nhớ mình giảm sút quá, nên khó nhớ và dễ quên nhiều điều phải ghi nhớ, nhất là trong việc học ngoại ngữ. Không ít người, trong đó có cả các chuyên gia dạy tiếng, chưa đánh giá đúng mức ảnh hưởng của nội dung bài khóa đối với thực tiễn đời sống thì vẫn luôn luôn chỉ rõ điều đó. Vì thế, vấn đề đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại theo một hệ thống nào đó cho bài khóa ngoại ngữ cho đến nay vẵn chưa được đề lên thành nguyên tắc lớn trong khoa học dạy ngôn ngữ mới.
Nhưng trong thực tiễn dạy học chữ Hán, do những điều kiện lịch sử đặc thù của nó, nguyên tắc đó đã được thể hiện một cách tự nhiên, và đã đem lại hiệu quả rất lớn cho người học.
Dưới đây chúng ta hãy phân tích việc ghi nhớ bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt ở các nhà Nho và cũng là ở mọi người để giải quyết một phần vấn đề vừa được nêu lên.
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bài thơ gồm 4 câu với 28 chữ. Thuộc bài thơ tức là thuộc 27 (3) chữ,
và cũng từ đó, nếu cần thiết và biết cách học thì vừa ôn lại vừa biết
thêm nhiều chữ nữa. Còn hiện tượng ngữ pháp trong bài thơ thì tất nhiên
phong phú, đa dạng cũng giống như các văn bản khác của các tiếng khác
trong hiện tượng tương tự.
Tất cả những người học chữ Hán trước đây đều nói rằng sau khi nghe thầy học bình giảng xong là thuộc cả và nhớ mãi.
Chúng ta hãy phân tích xem bài thơ được ghi nhớ như thế nào nhờ những yếu tố tương hợp giữa văn bản và tâm lý người học. Những yếu tố này hiện diện trong quá trình ghi nhớ thường chỉ được người học cảm nhận trong một cảm xúc tích cực. Hiện tượng này cũng gần giống như khi ta bước đi, ta chỉ cảm nhận được tính tích cực trong một động tác, mà không cảm thấy được hơn 50 xung động thần kinh điều khiển bước đi đã diễn ra.
Chúng ta có thể kể đến những yếu tố sau đây:
Bài thơ là văn bản hoàn chỉnh, có nghĩa, hợp lô - gích như tất cả những văn bản bình thường khác nhưng nó có những cái đáng chú ý; nó là thơ và lại là thơ tứ tuyệt, nên phù hợp với hứng thú văn chương của nhiều nhà nho và không làm quá tải với trí nhớ của người tiếp nhận, do số lượng từ ít. Nó là tiếng nói của một vị anh hùng dân tộc và cũng là của cả một dân tộc trong giờ phút thiêng liêng của lịch sử, giờ phút Tổ quốc đứng trước nguy cơ của nạn ngoại xâm từ một nước lớn. Nó thể hiện khí phách anh hùng, niềm tin vào sức mạnh của chính nghĩa, của pháp lý quốc tế, vào sức mạnh bất khả chiến thắng của một dân tộc có truyền thống giữ nước. Nó vang lên niềm tự hào của cả một dân tộc.
Bài thơ là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.
Nó lại được nhuốm màu sắc thần bí, khêu gợi trí tò mò do được gắn liền với một giai thoại lịch sử nên dễ làm cho quá trình xúc cảm, tư duy và tưởng tượng trên đây để làm cho quá trình trí nhớ ở chủ thể tiếp nhận diễn ra có kết quả tốt hơn.
Bản thân bài thơ là một tài liệu có giá trị sử cao, đồng thời cũng là tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật rất đáng trân trọng. Chủ thể có trình độ nhận thức và biết đặt thêm hai mục đích học vấn quan trọng đó nữa, hiệu quả của ghi nhớ càng cao hơn, càng cao hơn nữa nếu chủ thể hình dung vốn văn hóa chung này sẽ được vận dụng vào những hoàn cảnh, tình huống giao tiếp trong tương lai đặc biệt là khi sử dụng nó không chỉ như một công cụ bình thường mà còn có thể như một vũ khí sắc bén trước một đối phương nào đó.
Tất nhiên, chúng ta còn cần phải tính đến ảnh hưởng của những dạng kích thích sau đây của bài thơ đối với chủ thể tiếp nhận. Người học được học bài thơ từ một văn bản có chữ viết đẹp, trang trọng (nếu được phép lạc đề xa đề một chút, ta có thể nói đến việc đọc bài thơ từ những dòng chữ trên trang giấy đặc biệt có hoa văn phơn phớt một màu đẹp nào đó làm nền, hoặc được nghe bài thơ bằng một giọng đọc, giọng ngâm, giọng bình giảng đặc trưng do có sự thấm đượm những cảm xúc sử thi của một tâm hôn tràn đầy lòng yêu nước, chí căm thù và tinhh thần tự hào dân tộc thì hiệu quả của việc ghi nhớ được tăng cường thêm, thậm chí đối với một người nào đó, hiệu quả đó đến một cách tức khắc, bất ngờ và để lại một dấu ấn cực kỳ mạnh mẽ và sâu sắc. Một hiệu quả ghi nhớ như vậy thường chỉ xuất hiện đối với những văn bản mang lượng thông tin văn hóa chung thời đại.Thật khó mà nói rằng, một đoạn văn hội thoại thường gặp hàng ngày có thể gây ra những cảm xúc lớn để giúp trí nhớ làm việc tốt hơn ở người học kiểu như trên nhờ tính kích thích của chữ viết và giọng đọc, trừ những trường hợp đặc biệt lắm mà ta chưa tiện nêu ra ở đây.
Bài thơ nếu được học trong một không gian, một thời gian thích hợp, cógiá trị xúc tác và các quá trình nhận thức chúng, tức được học trong một hoàn cảnh cótính kích thích tâm lý thuận lợi, thì nhất định cũng được ghi nhớ tốt hơn. Sức kích thích này của thông tin văn hóa chung thời đại trong bài khóa có thể đem so sánh với sức kích thích của văn hóa tình huống giao tiếp thực hàng ngày, một sức kích thích mà người học ngoại ngữ không có cái may mắn được ở trong môi trường bản ngữ hầu như không có.
Tóm lại, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, sự kiện lịch sử mà văn bản phản ánh, uy tín và trách nhiệm xã hội của tác giả, nội dung tư tưởng, tình cảm và hình thức nghệ thuật của bài thơ nói chung cũng như ý nghĩa của nó đối với người học đã làm cho chủ thể nhận thức có khả năng phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ đời sống tâm lý của mình với những thành phần cảm giác và tri giác, tư duy và tưởng tượng, chú ý và ngôn ngữ đến cảm xúc và tình cảm, để cho trí nhớ của mình không phải làm việc một cách đơn độc. Bài thơ từ chỗ là đối tượng của hành động ghi nhớ chuyển dần sang đồng thời là đối tượng của nhiều hành động tâm lý khác đặc biệt là của hành động tư duy. Đó là một bí quyết của việc học tập ở đây, và cũng chính là một lý do cơ bản của việc đề lên nguyên tắc mới quan trọng: hệ thống bài khóa ngoại ngữ được đong đầy nén chặt lượng văn hóa chung thời đại.
Xét về nhiều tiêu chuẩn của một bài khóa ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp, bài thơ Nam quốc sơn hà chưa phải là loại bài khóa tiêu biểu. Nhưng xét theo tiêu chuẩn của lượng thông tin văn hóa chung thời đại (4) và nhất là tính thêm điều kiện dễ có sẵn văn bản trong trí nhớ của nhiều người khi đọc bài viết này cũng như tính tiện lợi của sự phân tích những yếu tố tương hợp giữa văn bản và tâm lý người học chúng tôi đã chọn bài thơ trên để làm ví dụ phân tích. Sự nêu lên các yếu tố đó như đã được làm ở trên cũng hoàn toàn mới dừng lại ở mức gợi ý, chưa đến mức đầy đủ, rạch ròi từng điểm và xếp theo một thứ tự chặt chẽ để có thể dẫn người đọc đến chỗ có thể hình dung được sự vận động và hiệu quả của quá trình trí nhớ, quá trình tưởng như phức tạp không thể nhận thức nó một cách chính xác gần giống như nhận thức sự vận động của một bước đi gồm hơn năm mươi xung động thần kinh. Chúng tôi muốn tránh bớt sự dài dòng và nặng nề cho người đọc, một khi phạm vi bài viết này đã cho phép.
Tất cả những điều vừa trình bày trên đây về việc ghi nhớ một tài liệu, ta thấy rõ rằng, hiệu quả của việc ghi nhớ phụ thuộc không chỉ vào sức làm việc riêng của trí nhớ. Trí nhớ chỉ đạt năng suất cao trong hoạt động khi nó được sự hỗ trợ tích cực của tri giác, tư duy, tưởng tượng, chú ý và ngôn ngữ của cảm xúc và tình cảm: của nhu cầu hứng thú và động cơ, nói chung là của toàn bộ nhân cách, tức của toàn bộ sức mạnh tổng hợp của đời sống tâm lý trong chủ thể.
Trên cơ sỏ khoa học đó, ta nói rằng việc đưa lượng thông tin văn hóa chung thời đại vào bài khóa ngoại ngữ, không những không cản trở cho việc ghi nhớ ngữ liệu, mà còn tác động tương hỗ, qua lại làm cho cả hai loại thông tin đều được người học nắm tốt hơn. Quả là trong việc học ngoại ngữ chữ Hán, tổ tiên ta đã vận dụng được quy luật số một của tâm lý con người theo quan điểm của tâm lý học hiện đại.
Văn bản mang đồng thời hai lượng thông tin chất lượng cao như trên ta đã nói không những được ăn sâu vào trí nhớ của nhà nho; mà do đó còn có sức sống mạnh mẽ ở cả cộng đồng rộng lớn trong trường kỳ lịch sử. Nhiều câu từ trang sách chữ Hán khi vang lên thỏa mãn người nghe về cả ba nhu cầu đạo đức, trí tuệ, và thẩm mỹ. Chẳng hạn, như những câu “Ngọc bất trác, bất thành khí, nhân bất học, bất tri đạo” (Viên ngọc không giũa, không thể thành đồ dùng, người không học, không thể biết đạo được) (Lễ ký) “Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế giả ngu” (Người có nhân mà không thích học, thì cái che đi là sự ngu muội) (Luận ngữ). “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người); “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (Cái gì mình muốn dựng lên thì dựng cho người) (Luận ngữ).
Quy luật vận động đồng thời và tác động qua lại giữa ý và lời, giữa tư tưởng và ngôn ngữ, giữa nội dung và hình thức biểu đạt được người xưa học theo sách chữ Hán: thể nghiệm thường xuyên hơn nhờ sức mạnh của giá trị và tác dụng của văn bản, như ta đã rõ, là một mặt; và nhờ thái độ coi trọng nội dung văn bản của người học, một thái độ được nuôi dưỡng bằng phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn”và quan điểm đã thành truyền thống “Văn dĩ tải đạo”, là một mặt khác.
Mặt thứ hai có được ở người học trước hết là do mặt thứ nhất tức nội dung của sách. Phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn” và quan điểm “Văn dĩ tải đạo” vốn có của người viết sách, rồi ở từng trang sách. ở đây, ta cũng cần lưu ý thêm cách hiểu nội dung phương châm quan điểm ấy của người xưa. “Lễ nói đây không chỉ là những quy định về thể thức giao tiếp, mà là toàn bộ những chuẩn mực đối nhân xử thế, nói chung là đạo làm người (dĩ nhiên đạo ấy là của xã hội buổi đó); “Lễ” là cả một nội dung cơ bản của học thuyết Nho giáo, chi phối toàn bộ xã hội. “Văn”đây không chỉ là văn chương, càng không phải chỉ là hình thức văn chương, mà là toàn bộ tư tưởng, tri thức, kỹ năng của thời đại; nó chở đạo, trong đó có đạo làm người.
Vì thế trong Luận ngữ, sách ghi lại những tư tưởng của Khổng Tử, Thánh kinh của người Trung Hoa xưa, mới có câu trở thành khuôn vàng thước ngọc trong xử thế: “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn” (Người đệ tử vào thì hiếu, ra thì đễ, cẩn thận mà tin tưởng, yêu cả mọi người, nhưng thân với người có nhân, làm được những điều ấy, có thừa sức mới học văn (Luận ngữ).
Trong thực tế, người xưa khi dạy học chữ Hán đã khai thác triệt để quy luật này của tâm lý học hiện đại, triệt để đến mức ta tưởng như người xưa đã phạm phải sai lầm lớn về phương pháp dạy ngoại ngữ, tưởng như họ không tính gì đến đặc điểm tâm lý lứa tuổi, khi họ đặc biệt chú ý mặt tư tưởng nội dung của văn bản. Cậu bé tóc còn để chỏm đến lớp học đã phải nghe giảng về đạo lý khi còn học chữ trong cuốn Tam tự kinh như ta đã biết. Phải thừa nhận rằng, một cuốn sách vỡ lòng như thế, tự thân nó chứa đựng khả năng phân chia các ông đồ ra làm hai phía: phía này dạy chữ với sự thuyết giáo đạo đức trừu tượng khô khan, khó hiểu, kém hấp dẫn, để rồi người học khó nhớ cả chữ và chán luôn cả việc học; còn phía kia nối gót Khổng Tử, người có nghệ thuật sư phạm cao, biết kể chuyện với dụng ý tạo tình huống có vấn đề, tận dụng vốn kinh nghiệm, phát huy tính tích cực của người học.
So sánh việc dạy chữ ngày xưa với ngày nay, ta thấy có sự khác nhau như sau. Ngày nay, trẻ bắt đầu học ngoại ngữ bằng việc làm quen với lời nói của ngôn ngữ mới trong tình huống của sinh hoạt hàng ngày. Còn ngày xưa trẻ bắt đầu học chữ Hán bằng việc tiếp nhận những thông tin văn hóa chung thời đại (dĩ nhiên, là những thông tin gắn liền với sự tu dưỡng nhân. Ngày nay, trẻ bắt đầu học ngoại ngữ bằng việc làm quen với lời nói của ngôn ngữ mới trong tình huống của sinh hoạt hàng ngày. Còn ngày xưa trẻ bắt đầu học chữ Hán bằng việc tiếp nhận những thông tin văn hóa chung thời đại ( dĩ nhiên, là những thông tin gắn liền với sự tu dưỡng nhân cách trong giao tiếp, trong quan hệ đời thường với những người xung quanh, với xã hội). Trẻ nắm được chữ nhờ sự nắm tri thức. Học chữ không có mục đích tự thân. Trong cách nhấn mạnh sự khác biệt, ta có thể nói rằng, trẻ ngày nay học ngoại ngữ thiên về cảm tính trực tiếp nếu có chú trọng đến tư duy khái quát, thì tư duy ấy chủ yếu vẫn là hướng vào hiện tượng ngôn ngữ (ít nhất là ta có thể nhận thấy điều này trong giờ học ở lớp). Còn trẻ ngày xưa bắt đầu học chữ Hán thiên về lý tính nhiều hơn, tâm trí của trẻ được hướng vào nội dung ý nghĩa mà ngôn ngữ đã phản ánh.
Trong khi thừa nhận rằng việc dạy học chữ Hán ở Việt Nam trước đây đã có quá trình phát triển đi lên dưới ảnh hưởng của nhiều nhân tố, trong đó có nhân tố tác động của ngôn ngữ học và có thể cả lối tư duy khoa học thực nghiệm từ phương Tây, ta càng có thể khái quát được rằng, phương pháp dạy học chữ Hán ngày xưa, ít nhất là trên lý thuyết và ở thực tiễn của những nhà giáo ưu tú, chủ yếu đi từ nội dung đến hình thức ngôn ngữ, từ ý đến lời. Vì thế trong khi đọc, cả tâm và trí đều được coi trọng, có khi tâm được nhấn mạnh hơn trí, ý văn, tứ thơ bao giờ cũng được xem là yếu tố chủ đạo trong hoạt động lời nói. Lối học vẹt và loại văn khuôn sáo chỉ thịnh hành ở giai đoạn suy vong của chế độ phong kiến.
Nhiều nhà soạn sách giáo khoa thực hành ngoại ngữ hiên nay cũng thấy đến mức độ nào đó quy luật này, nhưng trong quá trình hướng mạnh vào việc tạo văn bản có lượng thông tin văn hóa chung thời đại mà thực chất cũng mang sức kích thích của tính giao tiếp ở một chiều sâu khác mà văn bản tình huống sinh hoạt không thay thế được. Việc đưa thêm những câu tục ngữ, ca dao, những danh ngôn câu đố vào trang sách giáo khoa kèm theo các bài khóa, thì chỉ mới giống như những bông hoa được cài lên mái tóc cho cô gái, để làm duyên; còn gương mặt, trí tuệ, tâm hồn, tính cách của cô gái bài khóa, thì vẫn chưa có gì thay đổi đáng kể. Bởi lẽ, một bài khóa ngoại ngữ hiện nay muốn có lượng thông tin văn hóa chung thời đại có sức mạnh kích thích tâm lý người học như sách học chữ Hán ngày xưa đối với người đương thời, cần phải có sự hợp tác tay đôi trực tiếp giữa chuyên gia ngoại ngữ với các nhà khoa học và nhà nghệ sĩ lớn; trong đó, người này nêu lên yêu cầu và thiết kế về mặt ngôn ngữ, còn người kia thể hiện nội dung tư tưởng theo một cách làm của một cơ chế rất mới mà trong phạm vi bài viết này tác giả xin phép chưa phải trình bày. Có như thế chúng ta mới thừa kế được kinh nghiệm của người xưa.
Quy luật hiệu quả của tác động bên ngoài thông qua những điều kiện bên trong được vận dụng trong dạy học chữ Hán, trong đó, sách giáo khoa đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung giữ một vai trò rất quan trọng. Tác động của bên ngoài từ văn bản bài khóa là tác động đồng thời của nội dung và hình thức, ở đây, ta nói chủ yếu về tác động của nội dung. Điều kiện bên trong là toàn bộ đời sống tâm lý của một người với những đặc điểm của nó. ở đây, ta chú ý nhất tới đặc điểm của nhu cầu, hứng thú, động cơ.
Trong đời sống ai cũng thể nghiệm được sức mạnh của tâm lý trong sự đòi hỏi cái mà người ta cần, trong sự say mê cái mà người ta hứng thú, trong sự vươn tới cái đã trở thành mục đích. Nhu cầu của cá nhân có thể phát triển cao đến mức tạo nên hiện tượng tâm thế đặc biệt làm cho sự phản ánh, đánh giá chất lượng kích thích theo 1 kích thước, trọng lượng, màu sắc, hình dáng, nhiệt độ riêng qua một lăng kính có độ chiết quang rất lớn. Tâm thế tích cực làm ta quên trở ngại, chấp nhận dễ dàng khó khăn. Hứng thú phát triển cao đến mức làm ta ham mê đối tượng làm thoả mãn nó. Chẳng hạn, đó là hiện tượng người ta có thể ngồi hàng giờ mải miết, quên thời gian và mệt nhọc, quên bận rộn và lo âu khác để nhận một thông tin từ trang sách khi thông tin này bắt đầu gây nên những cảm xúc trí tuệ, đạo đức, hay thẩm mỹ.
Nếu như nhu cầu đã tạo thành bản chất, cơ chế của tất cả các dạng tích cực của con người, thì động cơ là sự thể hiện cụ thể của bản chất: thể hiện ở sự thúc đẩy, lôi cuốn, điều chỉnh hoạt động. Cùng một việc làm, nhưng mỗi người có những động cơ khác nhau - khác nhau về nội dung, tính chất và sức mạnh. Chính vì vậy, hệ động cơ là một điều kiện bên trong đáng quan tâm nhất khi ta xét đến hiệu quả của tác động bên ngoài.
Vận dụng quy luật tâm lý đó, sách học chữ Hán của người xưa, đúng như trên gọi của nó là sách chữ Nho, tức sách nói về đạo Nho, tuyên truyền cho Nho giáo, dù là sách cho lứa tuổi nào, trình độ nào, tuyên truyền bằng nghệ thuật của văn chương, của triết học. Ngay cả khi nói về các khoa học khác nó cũng chở nặng đạo lý Nho giáo (hàm lượng tính tích cực của nó đối đời sống với con người và sự tiến bộ của lịch sử xã hội, đó là vấn đề mà chúng ta chưa xét ở đây). Sách lịch sử có khi kể chuyện theo phong cách văn học, đánh giá người theo tiêu chuẩn đạo đức, tất cả cái đó đều nhằm vào mục đích giáo huấn. Bộ Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sĩ Liên, nhà sử học Việt Nam cuối thế kỷ XV biên soạn là một ví dụ.
Chỉ tính riêng hình ảnh của “kẻ sĩ” và “người quân tử” được vẽ nên từ hàng vạn trang sách chữ Hán cũng đủ nói lên sức kích thích của tài liệu học tập ứng với nhu cầu, hứng thú, động cơ của người học trong nhà trường phong kiến ngày xưa như thế nào. Bằng văn chương và triết học, bằng kể chuyện và nghị luận, bằng thơ ca và văn xuôi...hình ảnh người quân tử mà hình mẫu là đức thánh Khổng Tử hiện lên dần dần trong từng câu, từng chữ đã hun đúc nên những tấm gương khổ học chứa đựng trong nó sức mạnh tổng hợp của toàn bộ sức mạnh tâm lý ở nhiều thế hệ nhà nho để giúp họ lập nên cái kỳ tích trong việc học ngoại ngữ “chữ Hán”, một kỳ tích mà theo chúng tôi có thể được giải thích bởi lý luận của tâm lý học hiện đại, để chuyển đến cho khoa học dạy ngoại ngữ hiện nay của nước ta cái chìa khóa của sự đổi mới, nâng cao chất lượng của việc dạy học và trong cách nghĩ, cách làm theo quan điểm chúng tôi cũng là sự nghiệp vĩ đại nâng cao dân trí nói chung.
Hẳn là trong cách suy nghĩ hợp lô gích đó, sự tồn tại và phát triển của Viện Hán Nôm trong cả hai chức năng lý luận và thực tiễn với nội dung mới, thiết nghĩ đã hoàn toàn rõ.
Trong lịch sử của nhân loại, mỗi dân tộc, do những điều kiện tự nhiên – thiên nhiên và lịch sử - xã hội nhất định, có những đóng góp riêng của mình vào những tiến bộ chung, nhờ biết khai thác những cái gì đó từ truyền thống của mình mà nội dung của nó xét đến cùng là niềm tin và sức mạnh từ một tư tưởng nào đó.
Bất chấp mọi hạn chế lịch sử, bù đắp cho nhiều nhược điểm của nền giáo dục phong kiến, cách dạy học ngoại ngữ chữ Hán với sách giáo khoa thực hành đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại một cách có hệ thống đã làm trọn được nhiệm vụ lớn lao của nó trong sự nghiệp vĩ đại nâng cao dân trí trong cùng một lúc về cả hai phương diện: ngôn ngữ mới và văn hóa chung. Tài sản tinh thần vô cùng quý giá đó không dễ gì dân tộc nào cũng có; và nếu có, không dễ gì dân tộc cũng sớm nhận ra nó, để có thể kế thừa nó một cách sáng tạo.
Tạo ra những bộ sách giáo khoa ngoại ngữ có lượng văn hóa thông tin chung thời đại vừa phổ cập, đề cao theo hệ thống nào đó đáp ứng nhu cầu của người học là tạo ra một công cụ chủ yếu mới theo nguyên lý mới. Công cụ mới như thế nào cũng đòi hỏi một phương pháp vận hành và những thao tác mới hoàn toàn ứng với nó. Cuốn sách giáo khoa ngoại ngữ mới mà công trình nghiên cứu của chúng tôi gợi ra cũng giống như vậy: nó đòi hỏi cách dạy và học mới. Sự nghiệp này sẽ gây ra nhiều khó khăn và tốn kém; nhưng đó là cái khó khăn và tốn kém của việc đắp một con đường mới, xây những cây cầu mới cho con tàu học vấn ngoại ngữ.
Chúng ta còn có thể hình dung được những gì nữa khi cuốn sách giáo khoa ngoại ngữ là sản phẩm của sự hợp tác tay đôi trực tiếp giữa chuyên gia ngoại ngữ và những nhà khoa học lớn, nhà nghệ sĩ bậc nhất của thời đại, để rồi lần đầu tiên trong lịch sử dạy tiếng, nó vừa được đối xử vừa như một tài liệu dạy ngoại ngữ, vừa như một tài liệu khoa học với đầy đủ ý nghĩa của nó, như một số bộ sách chữ Hán của người xưa hiện còn trước mắt chúng ta ?
Tất cả những người học chữ Hán trước đây đều nói rằng sau khi nghe thầy học bình giảng xong là thuộc cả và nhớ mãi.
Chúng ta hãy phân tích xem bài thơ được ghi nhớ như thế nào nhờ những yếu tố tương hợp giữa văn bản và tâm lý người học. Những yếu tố này hiện diện trong quá trình ghi nhớ thường chỉ được người học cảm nhận trong một cảm xúc tích cực. Hiện tượng này cũng gần giống như khi ta bước đi, ta chỉ cảm nhận được tính tích cực trong một động tác, mà không cảm thấy được hơn 50 xung động thần kinh điều khiển bước đi đã diễn ra.
Chúng ta có thể kể đến những yếu tố sau đây:
Bài thơ là văn bản hoàn chỉnh, có nghĩa, hợp lô - gích như tất cả những văn bản bình thường khác nhưng nó có những cái đáng chú ý; nó là thơ và lại là thơ tứ tuyệt, nên phù hợp với hứng thú văn chương của nhiều nhà nho và không làm quá tải với trí nhớ của người tiếp nhận, do số lượng từ ít. Nó là tiếng nói của một vị anh hùng dân tộc và cũng là của cả một dân tộc trong giờ phút thiêng liêng của lịch sử, giờ phút Tổ quốc đứng trước nguy cơ của nạn ngoại xâm từ một nước lớn. Nó thể hiện khí phách anh hùng, niềm tin vào sức mạnh của chính nghĩa, của pháp lý quốc tế, vào sức mạnh bất khả chiến thắng của một dân tộc có truyền thống giữ nước. Nó vang lên niềm tự hào của cả một dân tộc.
Bài thơ là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.
Nó lại được nhuốm màu sắc thần bí, khêu gợi trí tò mò do được gắn liền với một giai thoại lịch sử nên dễ làm cho quá trình xúc cảm, tư duy và tưởng tượng trên đây để làm cho quá trình trí nhớ ở chủ thể tiếp nhận diễn ra có kết quả tốt hơn.
Bản thân bài thơ là một tài liệu có giá trị sử cao, đồng thời cũng là tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật rất đáng trân trọng. Chủ thể có trình độ nhận thức và biết đặt thêm hai mục đích học vấn quan trọng đó nữa, hiệu quả của ghi nhớ càng cao hơn, càng cao hơn nữa nếu chủ thể hình dung vốn văn hóa chung này sẽ được vận dụng vào những hoàn cảnh, tình huống giao tiếp trong tương lai đặc biệt là khi sử dụng nó không chỉ như một công cụ bình thường mà còn có thể như một vũ khí sắc bén trước một đối phương nào đó.
Tất nhiên, chúng ta còn cần phải tính đến ảnh hưởng của những dạng kích thích sau đây của bài thơ đối với chủ thể tiếp nhận. Người học được học bài thơ từ một văn bản có chữ viết đẹp, trang trọng (nếu được phép lạc đề xa đề một chút, ta có thể nói đến việc đọc bài thơ từ những dòng chữ trên trang giấy đặc biệt có hoa văn phơn phớt một màu đẹp nào đó làm nền, hoặc được nghe bài thơ bằng một giọng đọc, giọng ngâm, giọng bình giảng đặc trưng do có sự thấm đượm những cảm xúc sử thi của một tâm hôn tràn đầy lòng yêu nước, chí căm thù và tinhh thần tự hào dân tộc thì hiệu quả của việc ghi nhớ được tăng cường thêm, thậm chí đối với một người nào đó, hiệu quả đó đến một cách tức khắc, bất ngờ và để lại một dấu ấn cực kỳ mạnh mẽ và sâu sắc. Một hiệu quả ghi nhớ như vậy thường chỉ xuất hiện đối với những văn bản mang lượng thông tin văn hóa chung thời đại.Thật khó mà nói rằng, một đoạn văn hội thoại thường gặp hàng ngày có thể gây ra những cảm xúc lớn để giúp trí nhớ làm việc tốt hơn ở người học kiểu như trên nhờ tính kích thích của chữ viết và giọng đọc, trừ những trường hợp đặc biệt lắm mà ta chưa tiện nêu ra ở đây.
Bài thơ nếu được học trong một không gian, một thời gian thích hợp, cógiá trị xúc tác và các quá trình nhận thức chúng, tức được học trong một hoàn cảnh cótính kích thích tâm lý thuận lợi, thì nhất định cũng được ghi nhớ tốt hơn. Sức kích thích này của thông tin văn hóa chung thời đại trong bài khóa có thể đem so sánh với sức kích thích của văn hóa tình huống giao tiếp thực hàng ngày, một sức kích thích mà người học ngoại ngữ không có cái may mắn được ở trong môi trường bản ngữ hầu như không có.
Tóm lại, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, sự kiện lịch sử mà văn bản phản ánh, uy tín và trách nhiệm xã hội của tác giả, nội dung tư tưởng, tình cảm và hình thức nghệ thuật của bài thơ nói chung cũng như ý nghĩa của nó đối với người học đã làm cho chủ thể nhận thức có khả năng phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ đời sống tâm lý của mình với những thành phần cảm giác và tri giác, tư duy và tưởng tượng, chú ý và ngôn ngữ đến cảm xúc và tình cảm, để cho trí nhớ của mình không phải làm việc một cách đơn độc. Bài thơ từ chỗ là đối tượng của hành động ghi nhớ chuyển dần sang đồng thời là đối tượng của nhiều hành động tâm lý khác đặc biệt là của hành động tư duy. Đó là một bí quyết của việc học tập ở đây, và cũng chính là một lý do cơ bản của việc đề lên nguyên tắc mới quan trọng: hệ thống bài khóa ngoại ngữ được đong đầy nén chặt lượng văn hóa chung thời đại.
Xét về nhiều tiêu chuẩn của một bài khóa ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp, bài thơ Nam quốc sơn hà chưa phải là loại bài khóa tiêu biểu. Nhưng xét theo tiêu chuẩn của lượng thông tin văn hóa chung thời đại (4) và nhất là tính thêm điều kiện dễ có sẵn văn bản trong trí nhớ của nhiều người khi đọc bài viết này cũng như tính tiện lợi của sự phân tích những yếu tố tương hợp giữa văn bản và tâm lý người học chúng tôi đã chọn bài thơ trên để làm ví dụ phân tích. Sự nêu lên các yếu tố đó như đã được làm ở trên cũng hoàn toàn mới dừng lại ở mức gợi ý, chưa đến mức đầy đủ, rạch ròi từng điểm và xếp theo một thứ tự chặt chẽ để có thể dẫn người đọc đến chỗ có thể hình dung được sự vận động và hiệu quả của quá trình trí nhớ, quá trình tưởng như phức tạp không thể nhận thức nó một cách chính xác gần giống như nhận thức sự vận động của một bước đi gồm hơn năm mươi xung động thần kinh. Chúng tôi muốn tránh bớt sự dài dòng và nặng nề cho người đọc, một khi phạm vi bài viết này đã cho phép.
Tất cả những điều vừa trình bày trên đây về việc ghi nhớ một tài liệu, ta thấy rõ rằng, hiệu quả của việc ghi nhớ phụ thuộc không chỉ vào sức làm việc riêng của trí nhớ. Trí nhớ chỉ đạt năng suất cao trong hoạt động khi nó được sự hỗ trợ tích cực của tri giác, tư duy, tưởng tượng, chú ý và ngôn ngữ của cảm xúc và tình cảm: của nhu cầu hứng thú và động cơ, nói chung là của toàn bộ nhân cách, tức của toàn bộ sức mạnh tổng hợp của đời sống tâm lý trong chủ thể.
Trên cơ sỏ khoa học đó, ta nói rằng việc đưa lượng thông tin văn hóa chung thời đại vào bài khóa ngoại ngữ, không những không cản trở cho việc ghi nhớ ngữ liệu, mà còn tác động tương hỗ, qua lại làm cho cả hai loại thông tin đều được người học nắm tốt hơn. Quả là trong việc học ngoại ngữ chữ Hán, tổ tiên ta đã vận dụng được quy luật số một của tâm lý con người theo quan điểm của tâm lý học hiện đại.
Văn bản mang đồng thời hai lượng thông tin chất lượng cao như trên ta đã nói không những được ăn sâu vào trí nhớ của nhà nho; mà do đó còn có sức sống mạnh mẽ ở cả cộng đồng rộng lớn trong trường kỳ lịch sử. Nhiều câu từ trang sách chữ Hán khi vang lên thỏa mãn người nghe về cả ba nhu cầu đạo đức, trí tuệ, và thẩm mỹ. Chẳng hạn, như những câu “Ngọc bất trác, bất thành khí, nhân bất học, bất tri đạo” (Viên ngọc không giũa, không thể thành đồ dùng, người không học, không thể biết đạo được) (Lễ ký) “Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế giả ngu” (Người có nhân mà không thích học, thì cái che đi là sự ngu muội) (Luận ngữ). “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người); “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (Cái gì mình muốn dựng lên thì dựng cho người) (Luận ngữ).
Quy luật vận động đồng thời và tác động qua lại giữa ý và lời, giữa tư tưởng và ngôn ngữ, giữa nội dung và hình thức biểu đạt được người xưa học theo sách chữ Hán: thể nghiệm thường xuyên hơn nhờ sức mạnh của giá trị và tác dụng của văn bản, như ta đã rõ, là một mặt; và nhờ thái độ coi trọng nội dung văn bản của người học, một thái độ được nuôi dưỡng bằng phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn”và quan điểm đã thành truyền thống “Văn dĩ tải đạo”, là một mặt khác.
Mặt thứ hai có được ở người học trước hết là do mặt thứ nhất tức nội dung của sách. Phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn” và quan điểm “Văn dĩ tải đạo” vốn có của người viết sách, rồi ở từng trang sách. ở đây, ta cũng cần lưu ý thêm cách hiểu nội dung phương châm quan điểm ấy của người xưa. “Lễ nói đây không chỉ là những quy định về thể thức giao tiếp, mà là toàn bộ những chuẩn mực đối nhân xử thế, nói chung là đạo làm người (dĩ nhiên đạo ấy là của xã hội buổi đó); “Lễ” là cả một nội dung cơ bản của học thuyết Nho giáo, chi phối toàn bộ xã hội. “Văn”đây không chỉ là văn chương, càng không phải chỉ là hình thức văn chương, mà là toàn bộ tư tưởng, tri thức, kỹ năng của thời đại; nó chở đạo, trong đó có đạo làm người.
Vì thế trong Luận ngữ, sách ghi lại những tư tưởng của Khổng Tử, Thánh kinh của người Trung Hoa xưa, mới có câu trở thành khuôn vàng thước ngọc trong xử thế: “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn” (Người đệ tử vào thì hiếu, ra thì đễ, cẩn thận mà tin tưởng, yêu cả mọi người, nhưng thân với người có nhân, làm được những điều ấy, có thừa sức mới học văn (Luận ngữ).
Trong thực tế, người xưa khi dạy học chữ Hán đã khai thác triệt để quy luật này của tâm lý học hiện đại, triệt để đến mức ta tưởng như người xưa đã phạm phải sai lầm lớn về phương pháp dạy ngoại ngữ, tưởng như họ không tính gì đến đặc điểm tâm lý lứa tuổi, khi họ đặc biệt chú ý mặt tư tưởng nội dung của văn bản. Cậu bé tóc còn để chỏm đến lớp học đã phải nghe giảng về đạo lý khi còn học chữ trong cuốn Tam tự kinh như ta đã biết. Phải thừa nhận rằng, một cuốn sách vỡ lòng như thế, tự thân nó chứa đựng khả năng phân chia các ông đồ ra làm hai phía: phía này dạy chữ với sự thuyết giáo đạo đức trừu tượng khô khan, khó hiểu, kém hấp dẫn, để rồi người học khó nhớ cả chữ và chán luôn cả việc học; còn phía kia nối gót Khổng Tử, người có nghệ thuật sư phạm cao, biết kể chuyện với dụng ý tạo tình huống có vấn đề, tận dụng vốn kinh nghiệm, phát huy tính tích cực của người học.
So sánh việc dạy chữ ngày xưa với ngày nay, ta thấy có sự khác nhau như sau. Ngày nay, trẻ bắt đầu học ngoại ngữ bằng việc làm quen với lời nói của ngôn ngữ mới trong tình huống của sinh hoạt hàng ngày. Còn ngày xưa trẻ bắt đầu học chữ Hán bằng việc tiếp nhận những thông tin văn hóa chung thời đại (dĩ nhiên, là những thông tin gắn liền với sự tu dưỡng nhân. Ngày nay, trẻ bắt đầu học ngoại ngữ bằng việc làm quen với lời nói của ngôn ngữ mới trong tình huống của sinh hoạt hàng ngày. Còn ngày xưa trẻ bắt đầu học chữ Hán bằng việc tiếp nhận những thông tin văn hóa chung thời đại ( dĩ nhiên, là những thông tin gắn liền với sự tu dưỡng nhân cách trong giao tiếp, trong quan hệ đời thường với những người xung quanh, với xã hội). Trẻ nắm được chữ nhờ sự nắm tri thức. Học chữ không có mục đích tự thân. Trong cách nhấn mạnh sự khác biệt, ta có thể nói rằng, trẻ ngày nay học ngoại ngữ thiên về cảm tính trực tiếp nếu có chú trọng đến tư duy khái quát, thì tư duy ấy chủ yếu vẫn là hướng vào hiện tượng ngôn ngữ (ít nhất là ta có thể nhận thấy điều này trong giờ học ở lớp). Còn trẻ ngày xưa bắt đầu học chữ Hán thiên về lý tính nhiều hơn, tâm trí của trẻ được hướng vào nội dung ý nghĩa mà ngôn ngữ đã phản ánh.
Trong khi thừa nhận rằng việc dạy học chữ Hán ở Việt Nam trước đây đã có quá trình phát triển đi lên dưới ảnh hưởng của nhiều nhân tố, trong đó có nhân tố tác động của ngôn ngữ học và có thể cả lối tư duy khoa học thực nghiệm từ phương Tây, ta càng có thể khái quát được rằng, phương pháp dạy học chữ Hán ngày xưa, ít nhất là trên lý thuyết và ở thực tiễn của những nhà giáo ưu tú, chủ yếu đi từ nội dung đến hình thức ngôn ngữ, từ ý đến lời. Vì thế trong khi đọc, cả tâm và trí đều được coi trọng, có khi tâm được nhấn mạnh hơn trí, ý văn, tứ thơ bao giờ cũng được xem là yếu tố chủ đạo trong hoạt động lời nói. Lối học vẹt và loại văn khuôn sáo chỉ thịnh hành ở giai đoạn suy vong của chế độ phong kiến.
Nhiều nhà soạn sách giáo khoa thực hành ngoại ngữ hiên nay cũng thấy đến mức độ nào đó quy luật này, nhưng trong quá trình hướng mạnh vào việc tạo văn bản có lượng thông tin văn hóa chung thời đại mà thực chất cũng mang sức kích thích của tính giao tiếp ở một chiều sâu khác mà văn bản tình huống sinh hoạt không thay thế được. Việc đưa thêm những câu tục ngữ, ca dao, những danh ngôn câu đố vào trang sách giáo khoa kèm theo các bài khóa, thì chỉ mới giống như những bông hoa được cài lên mái tóc cho cô gái, để làm duyên; còn gương mặt, trí tuệ, tâm hồn, tính cách của cô gái bài khóa, thì vẫn chưa có gì thay đổi đáng kể. Bởi lẽ, một bài khóa ngoại ngữ hiện nay muốn có lượng thông tin văn hóa chung thời đại có sức mạnh kích thích tâm lý người học như sách học chữ Hán ngày xưa đối với người đương thời, cần phải có sự hợp tác tay đôi trực tiếp giữa chuyên gia ngoại ngữ với các nhà khoa học và nhà nghệ sĩ lớn; trong đó, người này nêu lên yêu cầu và thiết kế về mặt ngôn ngữ, còn người kia thể hiện nội dung tư tưởng theo một cách làm của một cơ chế rất mới mà trong phạm vi bài viết này tác giả xin phép chưa phải trình bày. Có như thế chúng ta mới thừa kế được kinh nghiệm của người xưa.
Quy luật hiệu quả của tác động bên ngoài thông qua những điều kiện bên trong được vận dụng trong dạy học chữ Hán, trong đó, sách giáo khoa đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung giữ một vai trò rất quan trọng. Tác động của bên ngoài từ văn bản bài khóa là tác động đồng thời của nội dung và hình thức, ở đây, ta nói chủ yếu về tác động của nội dung. Điều kiện bên trong là toàn bộ đời sống tâm lý của một người với những đặc điểm của nó. ở đây, ta chú ý nhất tới đặc điểm của nhu cầu, hứng thú, động cơ.
Trong đời sống ai cũng thể nghiệm được sức mạnh của tâm lý trong sự đòi hỏi cái mà người ta cần, trong sự say mê cái mà người ta hứng thú, trong sự vươn tới cái đã trở thành mục đích. Nhu cầu của cá nhân có thể phát triển cao đến mức tạo nên hiện tượng tâm thế đặc biệt làm cho sự phản ánh, đánh giá chất lượng kích thích theo 1 kích thước, trọng lượng, màu sắc, hình dáng, nhiệt độ riêng qua một lăng kính có độ chiết quang rất lớn. Tâm thế tích cực làm ta quên trở ngại, chấp nhận dễ dàng khó khăn. Hứng thú phát triển cao đến mức làm ta ham mê đối tượng làm thoả mãn nó. Chẳng hạn, đó là hiện tượng người ta có thể ngồi hàng giờ mải miết, quên thời gian và mệt nhọc, quên bận rộn và lo âu khác để nhận một thông tin từ trang sách khi thông tin này bắt đầu gây nên những cảm xúc trí tuệ, đạo đức, hay thẩm mỹ.
Nếu như nhu cầu đã tạo thành bản chất, cơ chế của tất cả các dạng tích cực của con người, thì động cơ là sự thể hiện cụ thể của bản chất: thể hiện ở sự thúc đẩy, lôi cuốn, điều chỉnh hoạt động. Cùng một việc làm, nhưng mỗi người có những động cơ khác nhau - khác nhau về nội dung, tính chất và sức mạnh. Chính vì vậy, hệ động cơ là một điều kiện bên trong đáng quan tâm nhất khi ta xét đến hiệu quả của tác động bên ngoài.
Vận dụng quy luật tâm lý đó, sách học chữ Hán của người xưa, đúng như trên gọi của nó là sách chữ Nho, tức sách nói về đạo Nho, tuyên truyền cho Nho giáo, dù là sách cho lứa tuổi nào, trình độ nào, tuyên truyền bằng nghệ thuật của văn chương, của triết học. Ngay cả khi nói về các khoa học khác nó cũng chở nặng đạo lý Nho giáo (hàm lượng tính tích cực của nó đối đời sống với con người và sự tiến bộ của lịch sử xã hội, đó là vấn đề mà chúng ta chưa xét ở đây). Sách lịch sử có khi kể chuyện theo phong cách văn học, đánh giá người theo tiêu chuẩn đạo đức, tất cả cái đó đều nhằm vào mục đích giáo huấn. Bộ Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sĩ Liên, nhà sử học Việt Nam cuối thế kỷ XV biên soạn là một ví dụ.
Chỉ tính riêng hình ảnh của “kẻ sĩ” và “người quân tử” được vẽ nên từ hàng vạn trang sách chữ Hán cũng đủ nói lên sức kích thích của tài liệu học tập ứng với nhu cầu, hứng thú, động cơ của người học trong nhà trường phong kiến ngày xưa như thế nào. Bằng văn chương và triết học, bằng kể chuyện và nghị luận, bằng thơ ca và văn xuôi...hình ảnh người quân tử mà hình mẫu là đức thánh Khổng Tử hiện lên dần dần trong từng câu, từng chữ đã hun đúc nên những tấm gương khổ học chứa đựng trong nó sức mạnh tổng hợp của toàn bộ sức mạnh tâm lý ở nhiều thế hệ nhà nho để giúp họ lập nên cái kỳ tích trong việc học ngoại ngữ “chữ Hán”, một kỳ tích mà theo chúng tôi có thể được giải thích bởi lý luận của tâm lý học hiện đại, để chuyển đến cho khoa học dạy ngoại ngữ hiện nay của nước ta cái chìa khóa của sự đổi mới, nâng cao chất lượng của việc dạy học và trong cách nghĩ, cách làm theo quan điểm chúng tôi cũng là sự nghiệp vĩ đại nâng cao dân trí nói chung.
Hẳn là trong cách suy nghĩ hợp lô gích đó, sự tồn tại và phát triển của Viện Hán Nôm trong cả hai chức năng lý luận và thực tiễn với nội dung mới, thiết nghĩ đã hoàn toàn rõ.
Trong lịch sử của nhân loại, mỗi dân tộc, do những điều kiện tự nhiên – thiên nhiên và lịch sử - xã hội nhất định, có những đóng góp riêng của mình vào những tiến bộ chung, nhờ biết khai thác những cái gì đó từ truyền thống của mình mà nội dung của nó xét đến cùng là niềm tin và sức mạnh từ một tư tưởng nào đó.
Bất chấp mọi hạn chế lịch sử, bù đắp cho nhiều nhược điểm của nền giáo dục phong kiến, cách dạy học ngoại ngữ chữ Hán với sách giáo khoa thực hành đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại một cách có hệ thống đã làm trọn được nhiệm vụ lớn lao của nó trong sự nghiệp vĩ đại nâng cao dân trí trong cùng một lúc về cả hai phương diện: ngôn ngữ mới và văn hóa chung. Tài sản tinh thần vô cùng quý giá đó không dễ gì dân tộc nào cũng có; và nếu có, không dễ gì dân tộc cũng sớm nhận ra nó, để có thể kế thừa nó một cách sáng tạo.
Tạo ra những bộ sách giáo khoa ngoại ngữ có lượng văn hóa thông tin chung thời đại vừa phổ cập, đề cao theo hệ thống nào đó đáp ứng nhu cầu của người học là tạo ra một công cụ chủ yếu mới theo nguyên lý mới. Công cụ mới như thế nào cũng đòi hỏi một phương pháp vận hành và những thao tác mới hoàn toàn ứng với nó. Cuốn sách giáo khoa ngoại ngữ mới mà công trình nghiên cứu của chúng tôi gợi ra cũng giống như vậy: nó đòi hỏi cách dạy và học mới. Sự nghiệp này sẽ gây ra nhiều khó khăn và tốn kém; nhưng đó là cái khó khăn và tốn kém của việc đắp một con đường mới, xây những cây cầu mới cho con tàu học vấn ngoại ngữ.
Chúng ta còn có thể hình dung được những gì nữa khi cuốn sách giáo khoa ngoại ngữ là sản phẩm của sự hợp tác tay đôi trực tiếp giữa chuyên gia ngoại ngữ và những nhà khoa học lớn, nhà nghệ sĩ bậc nhất của thời đại, để rồi lần đầu tiên trong lịch sử dạy tiếng, nó vừa được đối xử vừa như một tài liệu dạy ngoại ngữ, vừa như một tài liệu khoa học với đầy đủ ý nghĩa của nó, như một số bộ sách chữ Hán của người xưa hiện còn trước mắt chúng ta ?
B.Đ.M
CHÚ THÍCH
(1) Nhiều cứ liệu trong bài viết này do ông Bùi Xán, cha tôi cung
cấp. Những sai sót có thể có ở đây là do sự lãnh hội của tôi gây ra.
2). Trước cuốn Tam thiên tự văn giải nghĩa này của Ngô Thì Nhậm, chỉ có cuốn Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa của bà Pháp Tính được ước đoẩn đời vào thế kỷ XV, trong đó tác giả đùng chữ Nôm để giải thích hơn 3.000 từ ngữ tiếng Hán, chia thành 39 loại bộ, mỗi loại bộ là một bài thơ dài gồm từ 100 câu thơ trở lên. Và sau cuốn của Ngô Thì Nhậm, còn một vài cuốn khác như Đại Nam quốc ngữ của Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San.
3) Chữ Nam được dùng hai lần.
4) Văn hóa chung thời đại, nói một cách thật vắn tắt là lượng tri thức bách khoa cần thiết cho cuộc sống mọi người. Vì thế, trong đó tất nhiên, có khối lượng lớn của tri thức văn học. Tác phẩm văn chương của quá khứ đã đi vào lịch sử văn học bao giờ cũng cần có chỗ đứng trong trí tuệ và tâm hồn của người hiện đại. Quan niệm như thế, chúng tôi lấy bài thơ này làm ví dụ cho bài viết của mình. /.
2). Trước cuốn Tam thiên tự văn giải nghĩa này của Ngô Thì Nhậm, chỉ có cuốn Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa của bà Pháp Tính được ước đoẩn đời vào thế kỷ XV, trong đó tác giả đùng chữ Nôm để giải thích hơn 3.000 từ ngữ tiếng Hán, chia thành 39 loại bộ, mỗi loại bộ là một bài thơ dài gồm từ 100 câu thơ trở lên. Và sau cuốn của Ngô Thì Nhậm, còn một vài cuốn khác như Đại Nam quốc ngữ của Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San.
3) Chữ Nam được dùng hai lần.
4) Văn hóa chung thời đại, nói một cách thật vắn tắt là lượng tri thức bách khoa cần thiết cho cuộc sống mọi người. Vì thế, trong đó tất nhiên, có khối lượng lớn của tri thức văn học. Tác phẩm văn chương của quá khứ đã đi vào lịch sử văn học bao giờ cũng cần có chỗ đứng trong trí tuệ và tâm hồn của người hiện đại. Quan niệm như thế, chúng tôi lấy bài thơ này làm ví dụ cho bài viết của mình. /.
No comments:
Post a Comment