SÁCH GIÁO KHOA VĂN PHỔ THÔNG, NHÌN TỪ GÓC ĐỘ DÙNG TỪ HÁN VIỆT
Hệ thống sách giáo khoa Văn các cấp trong Trường phổ thông nói
riêng và sách giáo khoa phổ thông nói chung đã được cải cách những bước
cơ bản, đã đạt được những thành tựu khả quan.Từ năm học 1981- 1982,
chúng ta chuyển sang hệ phổ thông 12 năm, thay vì chương trình 10 năm cũ
đã không phù hợp với tình hình thực tế đòi hỏi. Còn nay, trong sự
nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, lại đặt ra cho ngành
giáo dục những mục tiêu cao hơn trong việc biên soạn hệ thống sách giáo
khoa, kể cả Khoa học xã hội và Khoa học tự nhiên.Sách giáo khoa môn Văn phổ thông là bộ phận hết sức quan trọng, chi phối những thao tác trong quá trình “trồng người”, rèn luyện những kỹ năng cần thiết trong toàn bộ hướng tiếp nhận vốn tri thức phổ thông; là chìa khóa để bước vào các cấp học cao hơn, cũng như Nhập nghiệp sau này. Chính vì vậy, để có bộ sáchgiáo khoa Văn mang tính hệ thống, thừa tiếp theo tuyến dọc, có tính chi phối với các môn học khác theo tuyến ngang, đòi hỏi các soạn giả phải có tầm phổ quát cao, liên đới chặt chẽ và lôgích từ lớp bé lên lớp lớn, khả năng tiếp cận theo biểu đồ đi lên một cách hợp lý và khoa học.
Việc xác định mục đích và yêu cầu tuyển chọn hệ thống sách giáo khoa môn Văn phải chú ý tới: tính chất chuyển tiếp, nội dung, nghệ thuật, ngôn ngữ. Trong đó, bộ phận từ HánViệt có ý nghĩa và giá trị không nhỏ.
Bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến khía cạnh tìm hiểu từ Hán Việt được dùng trong hệ thống sách giáo khoa môn Văn phổ thông 12 năm, qua kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ mang mã số B93-05-117.
1. Nói đến tiếng Việt, nghĩa là không tách rời bộ phận từ Hán Việt, trong đó có những từ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt, có những từ do người Việt tạo ra trên cơ sở các yếu tố gốc Hán. Mảng từ Hán Việt này chiếm tỷ lệ không nhỏ trong vốn từ tiếng Việt. Hơn nữa, chúng có vai trò hết sức trọng yếu trong hoạt động của tiếng Việt trên mọi lĩnh vực đời sống, xã hội.
1.1 Khi tìm hiểu từ Hán Việt trong sách giáo khoa môn Văn hệ phổ thông, vấn đề đặt ra là: không đưa vào tiêu chí khảo sát những trường hợp sau:
Thứ nhất: Lớp từ đã hòa nhập vào tiếng Việt lần tiếp xúc trước thế kỷ thứ VIII, thứ IX (thường gọi là cổ Hán Việt), như: chè (trà), tìm (tầm), mùa (vụ), mùi (vị) v.v...
Thứ hai: Do sự chi phối của ngữ âm tiếng Việt, một bộ phận từ Hán Việt theo xu thế Việt hóa về mặt ngữ âm; từ đó hình thành các từ Hán Việt Việt hóa.Số lượng những từ này mờ hẳn nguồn gốc Hán Việt của chúng và hoà trộn vào tiếng Việt. Khi đó, trong thực tế không mấy ai coi những từ này có nguồn gốc Hán, dạng như: gan, gương, ghi...
Thứ ba: Lớp từ có yếu tố Hán Việt được hình thành trong lòng tiếng Việt, thường kết hợp với một hoặc hai yếu tố thuần Việt, ví dụ như: học trò, nhà giáo, cây cối, chung cuộc...
Ngoài ba trường hợp trên, lớp từ Hán Việt trong lần tiếp xúc thứ hai (thế kỷ VIII, IX) chưa được Việt hóa cao và một số từ thuộc phương ngữ tiếng Hán cũng thâm nhập vào tiếng Việt, song đọc khác với âm Hán Việt, như mì chính, âm Hán Việt là vị tinh. Một số từ thuộc ngôn ngữ các nước đồng văn (cùng nguồn gốc văn tự), như: cán bộ, phục vụ, đại bản doanh, điều chế, trường hợp... (từ Nhật Bản); một số từ có nguồn gốc từ châu Âu, như: Balê (Pari), Mạc Tư Khoa (Maxcơva), Câu lạc bộ, Hà Lan ..., một số từ có nguồn gốc Phạn, như: Phật, bát nhã, Nát bàn, bồ đề, Phật đà, A di đà... Tựu trung tất cả các từ dù mượn từ những nguồn gốc địa chỉ khác nhau qua con đường Hán hóa và đọc theo âm Hán Việt đều được xác định là những đối tượng xem xét.
1.2 Sự sản sinh từ mới trong tiếng Việt ở những thời kỳ khác nhau do hoàn cảnh lịch sử, xã hội và nhu cầu giao tiếp là một qui luật tất yếu của ngôn ngữ các dân tộc. Thực tế trong tiếng Việt, những từ mới được tạo ra chủ yếu do kết hợp bởi các yếu tố Hán Việt có khả năng hoạt động cao, ví dụ: y sỹ, bộ đội, công an, giáo viên, đồng chí, thập kỷ, vĩ mô, vi mô, vi tính, thế chấp v.v... Việc tạo ra từ mới một cách hợp lý, rõ ràng những từ đó tỏ ra rất phù hợp và có vai trò tích cực trên những lĩnh vực khác nhau. Nói như vậy, lớp từ mới sản sinh này không dễ đạt được sự thuần nhuyễn ngay với đông đảo mọi người mà còn được thử thách qua quá trình sử dụng và được xã hội thừa nhận.
Xét về mặt từ vựng, từ HánViệt có chỗ đứng vững chắc, có tính bền chặt mà không thể thay thế được trong tiếng Việt. Đặc điểm “nhất thành đa biến” cho chúng tạo ra những đơn vị từ mới một cách mạnh mẽ, và có thể tham gia hoạt động ở mọi lĩnh vực giao tiếp hay phong cách ngôn ngữ. Thế mạnh của từ Hán Việt biểu hiện các mặt:
Một là, các thuật ngữ Hán Việt có ưu thế mạnh khi sử dụng mà không thể thay thế bằng từ thuần Việt, ví dụ: bình luận, thẩm mỹ, di truyền, biến thiên, tích số, tổng số, lạm phát, thặng dư, môi trường, môi sinh, v.v...
Hai là, lớp từ vựng thuộc phong cách viết, vai trò của từ Hán Việt có vị trí đặc biệt; chúng tham gia ở mọi phương diện, phong cách ngôn ngữ, có ý nghĩa trang trọng, trí tuệ bác học.
Ba là, từ Hán Việt xuất hiện đầy đủ trong các từ loại tiếng Việt như danh từ, đại từ, động từ, tính từ v.v, mặt khác, chúng cũng được dùng khá linh hoạt trong cách chuyển từ loại, như danh từ Û động từ, tính từ Û động từ...
Ngoài ra, khi phân loại từ Hán Việt theo lớp từ “tích cực” mới và “tiêu cực” cổ thì lớp từ tiêu cực có một số từ mang tính lịch sử thuộc các lĩnh vực xã hội, quân sự, kinh tế, văn hóa được thay thế bằng những từ thuần Việt trong sáng, dễ hiểu hơn. Các từ thuộc loại trên đều trở thành tử ngữ mà chỉ còn giữ lại trong sách vở, tài liệu cũ, ví dụ: quận chúa, thái thú, thượng thư, lý trưởng, cai tổng, thế tự, cần lao v.v, hoặc những từ được thay bằng tử thuần Việt như: hoả xa = xe lửa, hoả tiễn = tên lửa, không phận = vùng trời, hải phận = vùng biển, phi trường = sân bay v.v...
Điều nữa, trong vốn từ tiếng Việt, những từ đồng nghĩa phần lớn là những từ Hán Việt. Vì vậy, khi cần biểu đạt một khái niệm thường có nhiều từ, ví như: căn bản - cơ bản - cốt yếu - cốt tử - cốt chủ - cốt thiết - chính yếu - chủ yếu.
Hiện tượng đồng âm không chỉ xảy ra trong vốn từ Hán Việt, còn đồng âm với từ thuần Việt, về ý nghĩa thì hoàn toàn khác, ví dụ: bán (một nửa) - bán (mua bán), tốt (chết) - tốt (đẹp tốt), bạn (phản lại) - bạn (bạn bè), đông (hướng đông) - đông (đông đúc) v.v.
Có thể khẳng định từ Hán Việt là thành phần khăng khít không thể tác rời, góp phần làm tiếng Việt phong phú và đa dạng; chúng lại có khả năng sản sinh cao và có ý nghĩa hết sức tích cực mà không có yếu tố ngôn ngữ nào thay thế được.
2. Vấn đề “xả” và “thủ” từ Hán Việt cần đặt ra như một tất yếu trong quá trình trau dồi tiếng Việt nói chung và thực trạng biên soạn sách văn phổ thông nói riêng.
Xuất phát từ đặc điểm ngôn ngữ vay mượn, khi sử dụng từ Hán Việt trong tiếng Việt cần chọn lọc. Điều cần chú trọng phải xem xét và xử lý các lớp từ Hán Việt sao cho thích hợp với hệ thống từ vựng tiếngViệt, làm cho phong phú thêm vốn từ vựng tiếng Việt mà không giảm đi bản sắc tiếng nói của dân tộc.
2.1, Sử dụng từ Hán Việt trong các hình thức hay phong cách ngôn ngữ, nghệ thuật, trong sáng tác văn học một cách hợp lý, có cân nhắc chọn lọc thì mới phù hợp với tâm lý và không làm nhoà đi vẻ đẹp, tính trong sáng của tiếng Việt. Đặc biệt, có nhiều trường hợp nhất thiết phải sử dụng từ Hán Việt để thay thế cho các yếu tố ngôn ngữ khác, đạt được độ chính xác trong giao tiếp cũng như hành văn.
Các lớp từ đã được Việt hóa cao, nghĩa là những từ Hán Việt hoà trộn vào tiếng Việt mà tiếng Việt không có từ thay thế, hoặc không thể thay thế được, mọi người Việt Nam ai ai cũng có thể hiểu chúng, không có trở ngại cho việc giao tiếp và nhận thức, có thể nêu ra những loại sau:
a. Những từ cổ Hán Việt và Hán Việt Việt hóa. Hai lớp từ này từ xưa tới nay không có sự biến đổi về nghĩa, chỉ biến đổi mặt vỏ ngữ âm; chúng đã đượcViệt hóa cao và trở thành như từ thuần Việt, cho nên chúng tham gia hoạt động trong tiếng Việt không hề gây trở ngại, ví dụ: gương, mùa, chìm, xe, buồng, nách, gan, gần, tìm, hè, mùi, dao v.v.
b. Những từ Hán Việt đơn âm tiết; chúng là lớp từ tích cực, được dùng một cách độc lập và có ưu thế sản sinh từ mới một cách linh hoạt, như: đoàn đội, hoa, quả, nam, nữ, ông, bà, thuyền, binh, lính, đăng, nhạc, ca, tài v.v.
c. Những từ Hán Việt mà tiếng Việt không có từ thay thế tương ứng, bộ phận từ này có vị trí vững chắc, tính ổn định cao trong vốn từ tiếng Việt, như: đạo đức, văn hiến, xã hội, công tác, kinh tế, lao động, cộng hoà, độc lập, nhân dân, tổ quốc, nông sản v.v
d. Một số từ ghép Hán Việt vào tiếng Việt đã biến đổi ý nghĩa vốn có của chúng mặt khác sắc thái tu từ cũng thay đổi theo cách hiểu riêng và thói quen của người Việt Nam. Có thể gọi lớp từ này là lớp từ “hướng Việt”, như: tử tế, khốn nạn, thiết tha, cường điệu, đáo để, lịch lãm, việt vị... Từ thiết tha vốn có nghĩa là gọt mài vật gì, người Việt lại hiểu với nghĩa tình cảm sâu sắc vô cùng; từ tử tế vốn có nghĩa là tỷ mỷ, người Việt lại hiểu là tình cảm tốt đẹp hay tốt bụng...
Nhìn chung, các lớp từ được việt hóa về mặt ngữ âm hay ý nghĩa trên khi sử dụng là cần thiết và xác đáng, nếu chừng mực hợp lý. Ngược lại, nếu thái quá, sính lạm dụng từ Hán Việt thì vô tình hay hữu ý đều làm cho tiếng Việt thêm rắc rối, thiếu mạch lạc và khó hiểu.
Vay mượn vốn từ ngoại lại, để bổ sung cho ngôn ngữ mỗi dân tộc vừa mang tính tích cực, vừa mang tính khách quan, phù hợp với qui luật tồn tại và phát triển của ngôn ngữ. Từ chỉ những sự vật, những khái niệm, thuật ngữ cần được gọi tên, cần được biểu đạt, nhưng tiếng Việt không có từ thích hợp thì nên mượn từ Hán Việt. Trường hợp, vốn từ tiếng Việt có từ đồng nghĩa, nhưng bị hạn chế về sắc thái tu từ, thiếu khả năng diễn đạt ý nghĩa thì nên dùng từ Hán Việt, cụ thể như:
a. Những từ mượn cả âm và giữ nguyên ý nghĩa khi trong tiếng Việt không có từ tương đương (ví dụ: mục c, 2-1).
b. Những từ Hán Việt giống nhau về ý nghĩa với các từ thuần Việt, nhưng sắc thái biểu cảm và phong cách sử dụng khác nhau trong từng ngữ cảnh mà chúng không thể thay thế cho nhau được, ví dụ: “xuống nước - hạ thây”, “chết hi sinh, tạ thế, từ trần, băng hà ...”, “xác chết - thi hài, tử thi”, “chiến sỹ lái - giặc lái máy bay, phi công” ...
c. Những từ có quan hệ đồng nghĩa, cả hai - từ Hán Việt và từ thuần Việt đều được sử dụng trong những văn cảnh khác nhau vì chúng có sắc thái ý nghĩa không giống nhau, mục đích sử dụng khác nhau, vì thế chúng không thể thay thế cho nhau trong mọi trường hợp, ví dụ: “nhân loại - loài người”, “kiên trì - giữ vững”, “cơ sở - nền tàng”, “phi - bay”, “niệm - đọc”, “vũ - khoảng không gian”. Xét các thí dụ trên cho thấy: nói “tính nhân loại”, chứ không nói “tính loài người”, nói “ngựa phi” chứ không nói “chim phi”, nói “kiên trì theo đuổi”, chứ không nói “giữ vững theo đuổi”...
2.2. Vấn đề đặt ra về yêu cầu “xả” tức là loại thải những từ Hán Việt không đạt được những tiêu chuẩn tối thiểu để tồn tại và tham gia hoạt động trong tiếng Việt, một khi tiếng Việt có từ thay thế. Tính độc lập tương đối trong mối quan hệ với ngôn ngữ các dân tộc trên thế giới là yếu tố quyết định cho sự phát triển của tiếng Việt. Xét một số trường hợp:
Thứ nhất: Dùng từ thuần Việt thay từ Hán Việt khi chúng phát huy được các yêu cầu về tu từ, sắc thái biểu cảm, đạt độ chính xác về nội dung biểu đạt và được số đông chấp nhận, ví dụ: “tên lửa” thay “hoả tiễn”, “khoảng cách” thay “cự ly” “bắn súng” thay “xạ kích”, “ghế dài” thay “tràng kỷ”, “giúp việc” thay “lao công”, “vùng trời” thay “không phận” v.v...
Thứ hai: Những từ có kết cấu Hán Việt sai qui phạm, chẳng hạn: “tâm sinh lý”, “huân huy chương”, “tiểu, trung đại học” “nông lâm ngư nghiệp”... tạo ra sự hụt hẫng về ý nghĩa.
Thứ ba: Dùng từ ghép Hán Việt sai vị trí âm tiết gây nhầm lẫn giữa hai từ có ý nghĩa khác nhau (trừ những từ có cách hiểu theo kiểu người Việt: “huyết áp” hay “áp huyết”), ví dụ: “yếu điểm” khác “điểm yếu”, “lao công” khác “công lao”, “chính nghĩa” khác “nghĩa chính”, “cố sự” khác “sự cố” v.v. Bên cạnh, còn một số từ do đặc điểm riêng sử dụng trong từng trường hợp cụ thể cần đảo vị trí âm tiết, như: “đấu tranh” - “tranh đấu”, “đơn giản” - “giản đơn”, “đảo điên” - “điên đảo”, “luyện tập” - “tập luyện”, “hội tụ”- “tụ hội” v.v..., nên chăng cần hạn chế những từ có kết cấu ngược để cho việc sử dụng mang tính thống nhất.
Thứ tư: Trong giao tiếp thường ngày cần hạn chế các từ liên quan đến điển tích, điển cổ, các từ mang tính chất văn chương, chữ nghĩa, dạng: Kim âu, kim ô, ba đào, thu không, hồ thỉ, tang bồng, điền hải...
Thứ năm: Việc tạo ra không ít những từ mới gắn với nhu cầu phát triển của xã hội, đã, đang và sẽ diễn ra không ngừng, song chỉ có được tính xã hội hóa về ngôn ngữ những từ cần biểu đạt những khái niệm mới do quá trình giao lưu quốc tế về văn hóa, khoa học và công nghệ mà tiếng Việt không đủ khả năng biểu đạt, ví dụ: “vi tính”, “vĩ mô”, “thế chấp”... Trái lại, nay trong sách giáo khoa thấy xuất hiện những từ rất khó hiểu mà tiếng Việt thừa điều kiện diễn đạt, như: trải nghiệm, y đức, chủ lưu, sinh thứ v.v.
2.3 Thực trạng từ Hán Việt trong hệ thống sách giáo khoa văn phổ thông đặt ra những vấn đề cần phải quan tâm đúng mức mà không thể coi nhẹ.
Lượng từ Hán Việt xuất hiện trong sách giáo khoa ở các lớp khá đồng đều. Tỷ lệ từ HánViệt ở mức cao được sử dụng trong một lớp phổ thông trên dưới hai ngàn lần. Ngay trong một lớp, cung một tập sách, chúng cũng được sử dụng dàn đều trong các bài. Một điều dễ nhận thấy là số lượng từ Hán Việt ở các bài văn xuôi nhiều hơn so với văn vần; trong các tác phẩm văn học nước ngoài (qua dịch thuật) nhiều hơn trong các tác phẩm văn học Việt Nam. Đặc biệt có những bài tới 300 từ Hán Việt, xuất hiện 426 lần. Bài Dế mèn phiêu lưu ký (Văn 6, tập 1) có 372 từ Hán Việt, xuất hiện 489 lần.
Tính ra xấp xỉ 5.000 từ Hán Việt trong hệ thống sách giáo khoa môn Văn phổ thông quả là không nhỏ. Từ thực tế đó đặt cho các soạn giả có hướng và giải pháp cụ thể cho mỗi bài, mỗi tập vả cả hệ thống.
Nhìn chung, số lượng từ dùng trong các sách rất đa dạng và phong phú mà chủ yếu là lớp từ tích cực. Những từ này thường rơi vào các trường hợp sau:
a. Các từ đồng âm, ví dụ: “chư quân” (các ông, các ngài) “chư quân” (quân đội chư hầu”; “thiên tư” (lệnh theo tình cảm riêng) (Văn 7) - “thiên tư” (tính chất sinh ra vốn có) (Văn 11)...
b. Các từ liên hệ đến điển tích, điển cố, phong tục xưa, những từ ít xuất hiện, như: thu không, tang hải, can qua, thảm đạm, bàn hoàn, lữ thứ, quan lang, thủ xướng v.v.
c. Các câu cách ngôn, thành ngữ Hán Việt, như: “thành hạ yêu mình”, “phong thanh hạc lệ”, “phu quí phụ vinh”, “quần tạm tụ ngũ”, “nhất nhật tại tù”, “thâm sơn cùng cốc” v.v...
d. Mục tiểu dẫn, các soạn giả dùng không ít từ Hán Việt, gây trở ngại lớn đến sự nhận thức của học sinh, vừa gai góc vừa khó hiểu, xin nêu một số thí dụ: vong quốc, toả chiết, tài văn, ai hoài, nhũng lạm, sinh thú, hợp tố, phiêu kỵ, đàm tâm, chủ lưu v.v.
3. Tình hình chú giải và định hướng khoa học cho việc chú giải từ Hán Việt trong hệ thống sách văn phổ thông.
Nói chung, hệ thống sách văn phổ thông đã chọn ra được những từ Hán Việt cần thiết phải chú giải. Lời chú giải đảm bảo yêu cầu ngắn gọn và dễ hiểu, thể hiện tính sư phạm trong ý đồ truyền đạt nội dung.
Bộ phận từ Hán Việt đặt ra như một trở ngại lớn đối với học sinh các cấp phổ thông trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Hầu như các bài khóa đều có phần chú giải, trong đó chủ yếu tập trung chú giải từ Hán Việt. Song, so với yêu cầu thực tế cũng cần bàn thêm không những bao gồm số lượng từ chọn ra để chú giải mà còn phương pháp và nội dung chú giải như thế nào cho hợp lý.
3.1. Những từ khó mà các soạn giả còn bỏ qua:
- Lớp 4: lâu dài (b.9), tài chính (b.9), bổ nhiệm (b.9), Sĩ quan (b.14), phù sa (b.16), vĩ tuyến (b.38), tập kết (b.55)...
- Lớp 5: đô hộ (b.6), thâm thuý (b.22), chính kiến (b.22), nguỵ quyền (b.94).
- Lớp 6: Lạc Việt (b.2), chung tình (b.4), bộ lạc (b.19), di chúc (b.19), tử thi (b.19), hắc ám (b.19), lương thấn (b.20)...
- Lớp 7: phân trần (b.5), biệt xứ (b.19), nhuệ khí (b.9), phương ngôn (b.9), hôn thê (b.11), tương phùng (b.23), bất phù (b.29), bất bần (b.23)...
- Lớp 8: công đường (b.2), Si (b.9), hoa lợi (b.11), gia sự (b.11)...
- Lớp 9: thảm đạm (b.2), thế trận xuất kỳ (b.2), Sĩ tốt (b.2), tiếm quyền (b.6), ngụ cư (b.7), phi tần (b.7), phương lược (b.8)...
- Lớp 10: bi kịch (tr.37), bác ái (tr.67), bản thổ (tr.55), chỉ nhân (tr.96), chí thiện (tr.121), dạ đài (tr.155)...
- Lớp 11: bút nghiên (tr.84), can qua (tr.38), can trường (tr.184), cổ động (tr.185), chước (tr.245), dương gian (tr.270), ý tưởng (tr.270)...
Lớp 12: hộ giá (tr.13), man điệu (tr.59), thanh đông (tr.57), ký sinh trùng (tr.79), hổ phù (tr.92), lộ (tr.161), yết hầu (tr.163), lâm chung (tr.177).
3.2. Chú giải thừa, thiếu hoặc tính chuẩn xác chưa cao.
a, Chưa chính xác, vídụ:
- “Khách sạn” (b.7,4): chú giải là khách sạn Luých, đáng ra phải trả lời là Khách sạn là gì?
- “bàn hoàn” (lớp 4): chú giải là nhiều lo lắng, không yên lòng, nên hiểu là băn khoăn không nỡ dứt ra. Hai ví dụ trên cho thấy lời chú giải không có sức thuyết phục.
b, Hiện tượng chú giải trùng lặp một từ có cùng văn cảnh. ở đây nảy ra tình trạng tính hệ thống, chuyển tiếp chưa cao, ví dụ:Từ “tuyệt vọng”: hết hẳn hi vọng (lớp 6), hết mong ước, hết hẳn hy vọng (lớp 6, tr.66), hết hẳn hi vọng, còn mong mỏi gì được nữa (L6, tr.129). Từ “tung hoành”: 3 lần (lớp 5 và 7); “trầm ngâm”, “dũng sĩ”, “hoa văn” “khôi ngô”, “tập quán”, “bồ liễu”,... (đều chú giải 2 lần).
c, Khi chú giải, tách các từ trong câu thơ, văn, nhưng bỏ sót những từ quan trọng: bài 19 (lớp 9) có câu: “Lưu đắc đan tâm chiếu hãn thanh”, bỏ qua từ “lưu đắc” không chú giải. Đáng ra sau khi chú giải từng từ, phải dịch thơ sát nghĩa cho học sinh dễ hiểu. Câu “làm quan bố chánh có vặn xỉ ra mà ăn” (lớp 8), “hai tên thể nữ ngọc vàng nghìn câu” (lớp 9).Trong 2 ví dụ trên nếu không chú giải “xỉ”, “thể nữ là gì, thì học sinh sao có thể nắm bắt được nội dung hai câu trên.
3.3. Những nguyên tắc đặt ra cho việc chú giải từ.
Từ thực tế chú giải trong hệ thống sách giáo khoa môn văn phổ thông, thiết nghĩ có thể định ra những nguyên tắc sau đây: a, Chọn đúng, đủ và cần những từ xuất hiện trong các bài. b, Chuẩn xác, ngắn gọn, dễ hiểu và phù hợp với tư duy lứa tuổi. c, Nghĩa gốc, nghĩa phái sinh, nghĩa cộng tác và nghĩa văn cảnh. d, Có tính hệ thống, chuyển tiếp và khoa học từ cấp thấp lên cao.
Có được bộ sách giáo khoa chất lượng tối ưu, là “thước vàng khuôn ngọc” cho học sinh các cấp phổ thông, đòi hỏi công sức không ít của các soạn giả. Chỉ nhìn từ góc độ từ Hán Việt cũng đã đặt ra nhiều “nút rối” cần tháo gỡ; thực tế nhiều năm nay, vốn hiểu biết về từ Hán Việt được thẩm thấu qua người dạy và người học văn ở bậc phổ thông quả là bức xúc về sự thiếu hụt. Tin rằng trong tương lai không xa, hệ thống sách giáo khoa nói chung và sách văn nói riêng sẽ có thăng hoa, hoàn mỹ đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cải cách giáo dục nước nhà.
Người biên tập: Mai Xuân Hải
No comments:
Post a Comment