Thursday, February 29, 1996

THỦ PHÁP DỐI LẬP QUÁ KHỨ HIỆN TẠI TRONG THƠ ĐƯỜNG VÀ SỰ THỂ HIỆN THỦ PHÁP ẤY Ở MỘT SỐ BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT




THỦ PHÁP ĐỐI LẬP QUÁ KHỨ HIỆN TẠI TRONG THƠ ĐƯỜNG VÀ SỰ THỂ HIỆN THỦ PHÁP ẤY Ở MỘT SỐ BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT
Thơ Đường đưa con người tham gia vào hòa điệu sinh thành đại đồng của vạn vật. Nhiệm vụ của nhà thơ là sáng tạo ra những hình ảnh, những động thái của thế giới hoàn hảo, mà muốn như vậy phải đưa chúng vào thế giới của ký ức. Một nhà thơ phương Tây đã nói Thiên đường chỉ tồn tại trong ký ức. Những gì trong ký ức mới đẹp, mới vĩnh cửu, vì khi mọi vật lùi vào ký ức là chúng đã chống lại với mọi đổi thay, chúng thở thành bất tử.
Sự hướng về quá khứ gần như tuyệt đối, có nhà nghiên cứu cứ coi đó là đặc điểm tâm lý của người Trung Quốc cổ. Quá khứ không ở sau họ mà ở ngay trước họ. Họ luôn luôn đối diện với quá khứ để thấy sự tồn tại của ngày hôm nay là khoảng thời gian mong manh ngắn ngủi, cuộc sống là phù du, ảo mộng và cái chết chính là sự trở về (sinh ký, tử quy).
Chính vì thế mà trong thơ ca của họ, nhất là thơ Đường, các hình ảnh luôn luôn nằm trong thế đối lập giữa quá khứ và hiện tại, giữa vĩnh cửu và phù du, giữa sinh thành và hủy diệt, giữa mộng mơ và thực tế. Thế đối lập chính vẫn là thế đối lập giữa hiện tại và quá khứ.
Các nhà thơ Đường thường lấy cái điêu tàn của hiện tại đối lập với cái huy hoàng của quá khứ để tạo nên nỗi ngậm ngùi trong lòng người đọc. Như bài Ô y hạng của Lưu Vũ Tích:
Chu Tước kiều biên dã thảo hoa,
Ô y hạng khẩu tịch dương tà.
Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến,
Phi nhập tầm thường bách tính gia.
(Bên cầu Chu Tước mọc đầy hoa đồng cỏ dại. Ngoài ngõ Ô y bóng đã tà. Những con chim yến xưa làm tổ trên lầu Vương Tạ, Nay bay vào nhà dân thường)
Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản dịch:
"Chu Tước bên cầu hoa cỏ tươi,
Ô y ngõ cũ bóng chiều soi.
Yến xưa làm tổ lầu Vương Tạ,
Nay đến nhà dân ríu rít rồi."
“Dã thảo hoa” sao dịch thành “hoa cỏ tươi”? Như thế là làm mất đi cái sự hoang phế của cầu Chu Tước, trước đây vốn là nơi nổi tiếng. Cầu Chu Tước, ngõ Ô y của hai nhà họ Vương, họ Tạ giàu sang thời xưa, bây giờ đã trở thành hoang phế. Hoa cỏ trước đây đựoc chăm chút cẩn thận, giờ đây không còn nữa, thay vào đó là hoa cỏ hoang mọc đầy.
Một là cảnh vật hoang tàn, hai là thời gian đã xế. Cả không gian và thời gian đều hiu hắt lụi tàn. Loài chim yến sang trọng trước kia vẫn ở chốn lâu đài, mà nay cũng phải bay vào nhà dân dã. Mọi cái đều đổi thay tàn tạ “tang thương đến cả hoa kia, cỏ này”. Dịch “dã thảo hoa” thành “hoa cỏ tươi” là làm mất đi một đỉnh của cấu trúc tam giác đổi thay chuyển hóa của bài thơ.
Hai câu thơ rất nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan trong: Thăng Long thành hoài cổ “hẳn là có chịu ảnh hưởng của bài Ô y hạng”:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Hai hình ảnh “thu thảo” và “tịch dương” đã gợi cảnh tang thương biến đổi của thành Thăng Long. Nếu thay “thu thảo” thành “xuân thảo” hay “phương thảo” thì hiệu quả gợi cảm ấy chắc sẽ giảm đi nhiều lắm.
Trong hai hình ảnh “Dã thảo” và “tịch dương tà” của bài Ô y hạng thì hình ảnh “dã thảo” hàm ý nhiều hơn hình ảnh “tịch dương tà”. “Tịch dương tà” chỉ là thời gian trong ngày mà tác giả chọn lựa để làm tăng thêm nền buồn của khung cảnh. “Dã thảo hoa” mới thực sự là hình ảnh cho thấy sự đối lập. Không để ý đến sự đối lập nằm ở đâu thì dịch giả sẽ cho một bản dịch kém cảm xúc.
Bản dịch của Tùng Vân trong Nam phong tạp chí tạo được nỗi ngậm ngùi, nhờ dịch được thế đối lập trên.
Bên cầu Chu Tước cỏ đìu hiu,
Ngoài ngõ Ô Y nhạt bóng chiều.
Chim yến hai nhà Vương, Tạ cũ
Lều tranh bách tính lại bay vào,
Hay bài Sơn phòng xuân sự của Sầm Tham:
Lương viên nhật mộ loạn phi nha,
Cửu mục tiêu điều tam lưỡng gia.
Đinh thụ bất tri nhân khứ tận,
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.
(Lương viên buổi chiều tà, quạ bay tán loạn. Trông hết tầm mắt chỉ thấy nóc nhà xơ xác. Cây trong sân không biết người đã đi hết, nên xuân đến vẫn cứ nở những đóa hoa của thời xưa)
Khu vườn đầy những tân khách hào hoa, những cung nhân xinh đẹp, cùng với chủ nhân phong nhã là thái tử Lương Hiếu Vương đã đi hết cả rồi, mà cây vẫn vô tình nở những đoá hoa xinh đẹp của thời thịnh vượng, huy hoàng, không biết đến những biến thiên của những kiếp đời ngắn ngủi.
Nguyễn Hiếu Văn trên tạp chí Bách khoa đã dịch:
Lương viên quạ lượn buổi chiều tà,
Lác đác buồn thay mấy nếp nhà.
Vắng bóng người xưa cây chẳng biết,
Xuân về hoa dại nở bung ra.
Và Giang Phu dịch:
Quạ liệng vườn Lương bóng ác tà,
Tiêu điều đây đó một đôi nhà.
Người xưa nay vắng cây nào biết,
Hoa gặp xuân về lại nở ra.
Hai bản dịch trên chưa dịch được “cựu thời hoa”. Hoa vẫn nở những đoá hoa của thời huy hoàng bình yên trong khi người xưa đã đi vắng hết. Sầm Tham đưa ra hai hình ảnh đối lập “nhân khứ tận” và “cựu thời hoa” mà dịch giả dịch thiếu “cựu thời hoa” là làm thiếu đi sự đối lập đến não lòng.
Ngô Tất Tố dịch:
Trời tối vườn Lương quạ dập dìu,
Nhà xa mấy nóc cảnh đìu hiu.
Cây sân chẳng biết người đi hết,
Xuân tới hoa xưa vẫn nở đều.
Tản Đà dịch:
Trời tối vườn Lương quạ lượn lờ,
Nhà đâu vút mắt, nóc lưa thưa.
Cây sân chẳng biết người đi hết,
Xuân đến hoa còn nở giống xưa.
Ngô Tất Tố và Tản Đà dịch được sự đối lập của nguyên tác, dịch được hàm ý của tác giả nhờ dịch được “nhân khứ tận” và “cựu thời hoa”
Về những bài thơ vịnh hoài cổ tích thì khôngai có thể sánh được với Lưu Vũ Tích. Những bài Tây Tái sơn hoài cổ, Thạch Đầu t hành của ông, Bạch Cư Dị hết lời tán thưởng.
Trong tiệc rượu cùng các bạn thơ tại nhà mình, mọi người thi thơ với đề tài “Tây Tái sơn hoài cổ”, Bạch Cư Dị nghe thơ của Lưu Vũ Tĩch xong liền nói: “Trong bốn người đi tìm ly long, bác Lưu đã bắt được ngọc châu rồi, còn lại vảy, móng thì dùng làm gì ?” Những người còn lại đều không làm tiếp nữa. Còn đọc xong câu: “Triều đã không thành tịch mịch hồi” trong bài Thạch Đầu thành, Bạch Cư Dị cực kỳ khen ngợi, nói rằng những bài thơ sau này không ai có thể đặt lời hơn thế được:
Sơn vi cố quốc chu tao tai,
Triều đã không thành tịch mịch hồi.
Hoài thủy đông biên cựu thời nguyệt,
Dạ thâm hoàn quánữ tường lai.
(Núi bao bọc quanh cố đô. Nước triều vỗ vào thành trống rồi rút lui lặng lẽ. Vầng trăng xưa ở phía Đông sông Hoài, đêm khuya vẫn chiếu vào chốn nữ tường).
Theo Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản, Trần Trọng Kim và Nguyễn Hiến Lê thì “nữ tường” là chỗ hở trên bờ thành để quân lính nấp bắn quân địch (Đúng ra nữ tường là phần tường con xây trên tường lớn, có khoét lỗ châu mai).
Bài thơ tứ tuyệt này bao gồm hai cặp đối lập.
Vẫn kinh thành xưa mà nay trống vắng chỉ còn nghe tiếng nước triều vỗ vào thành rồi lặng lẽ quay về.
Vẫn vầng trăng ở phía Đông sông Hoài, nhưng ngày nay soi suốt đến chốn nữ tường vắng tanh, trống trải, vốn là nơi được canh phòng nghiêm ngặt thời xưa.
Trần Trọng Kim dịch:
Cựu kinh vây núi chung quanh,
Nước hồ vỗ dưới chân thành vắng không.
Vầng trăng vẫn chiếu bên sông,
Đêm khuya vẫn đến dòm trong nữ tường.
K.D trong Thơ Đường tập I của Nxb. Văn học, Hà Nội dịch:
Sông Hoài trăng cũ phía đông,
Đêm khuya thấp thoáng bóng lồng tường con.
Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản dịch:
Bao bọc đô xưa núi mấy hàng,
Thành không vắng vẻ sóng hồ vang.
Phía đông hoài thủy vầng trăng cũ,
Đêm vắng còn soi chốn nữ tường.
Cả ba bản đều không dịch được “tịch mịch hồi” của nguyên tác. “Triều đã không thành tịch mịch hồi” (nước vỗ vào thành không rồi lặng lẽ quay về). Dịch thiếu “tịch mịch hồi” là làm mất đi nỗi ngậm ngùi của dòng nước triều trước cảnh đổi thay, là làm mất đi một cặp đối lập).
Bản của Trần Trọng San dịch được “tịch mịch hồi”, làm cho thiên nhiên trở nên có tình, như chia sẻ cùng con người nỗi mất mát, quạnh hiu:
Núi vây nước cũ còn quanh quẩn,
Sóng đập thành không lặng lẽ về.
Ở cặp đối lập thứ hai:
Hoài thủy Đông biên cựu thời nguyệt,
Dạ thâm hoàn quá nữ tường lai.
Trần Trọng San kiến giải là ánh trăng phía đông sông Hoài, đêm đã khuya vẫn chiếu qua tường các cô gái, chỉ khác là ngày nay các cô gái đã không còn là chinh phụ nữa vì chiến chinh đã chấm dứt rồi:
Trăng sáng bờ đông Hoài thủy trước,
Vượt tường cô gái lúc canh khuya.
Như vậy Trần Trọng San hiểu “nữ tường” là “bức tường nhà cô gái”. Thi Chập Tồn trong Đường thi bách thoại cũng hiểu “nữ tường” như Trần Trọng San khi kiến giải”... có còn chăng đèn sáng của lâu đài, những điệu ca hay, múa khéo, làm cho những đêm dài luôn náo nhiệt ? Không còn gì cả, chỉ còn vầng trăng sáng như thủa nào từ tường nhà cô gái chiếu vào thành”. Rõ ràng là sự suy diễn do hiểu không đúng nghĩa chữ “nữ tường”: “Nữ” trong”nữ tường” không có nghĩa là cố gái mà là “nhỏ”, ngược với vương, mã là “lớn” (theo Thuyết văn thông huấn định thanh”.
Đầu đề bài thơ là “Thạch đầu thành” và cặp đối lập thứ nhất đã nhắc đến nước triều vỗ vào chân thành trống vắng rồi lặng lẽ quay về, thì cặp đối lập thứ nhì sẽ hợp lý hơn nếu như hiểu “nữ tường” là chỗ nấp để canh thành. Chỗ ấy ngày xưa hẳn phải đầy quân sĩ, giờ đây trống vắng không một bóng người để mặc bóng trăng xuyên suốt. Hai cặp đối lập này bổ sung nhau, đã làm cho bài thơ diễn tả được một cách tuyệt vời sự hưng phế xưa nay.
K.D dịch:
Sông Hoài trăng cũ phía Đông,
Đêm khuya thấp thoáng bóng lồng tường con.
Dịch “nữ tường” thành “tường con” dịch giả không gợi được cho người đọc một hình ảnh hoang vắng của Thạch Đầu thành.
Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản phần nào dịch được sự đối lập đó:
Phía đông Hoài thủy vầng trăng cũ,
Đêm vắng còn soi chốn nữ tường.
“Nữ tường” không có từ tương đương ở tiếng Việt. Cách xử lý để nguyên từ Hán Việt rồi chú giải bên dưới, tập cho người Việt Nam quen thêm một từ mới, cũng là cách trước đây ông cha ta đã làm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản: Đường thi trích dịch, Xuân tập, Tủ sách Hoa Xưa, Tài liệu in ronéo, 1960.
- Tản Đà: Thơ Đường, Nguyễn Quảng Tuân, biên soạn, Hội nghiên cứu và giảng dạy Văn học Tp. HCM, Nxb. Trẻ, 1989.
- Trần Trọng Kim: Đường thi, Sài Gòn, Nxb. Tân Việt, 1974.
- Lesevich: Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa, Trần Đình Sử dịch, Trường Đại học Sư phạm, Tp. HCM, 1993.
- Giang Phu: Đường thi trích diễm, Sàigòn, Nxb. Long Giang, 1950.
- Ngô Tất Tố: Đường thi, Saigon, Khai trí xuất bản, 1961.
- Trần Trọng San: Thơ Đường, cuốn III, Saigon, Bắc Đẩu xuất bản, 1973.
- Thi Chập Tồn: Đường thi bách thoại, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1987./.
Người biên tập: Phan Văn Các

TB








No comments:

Post a Comment