VÀI Ý KIẾN NHỎ VỀ BÀI "BÀN VỀ MỘT CHỮ TRONG BÀI THƠ CỔ"
Tạp chí Hán Nôm số 4 - 1995 có bài: Bàn về một chữ trong bài thơ cổ của tác giả Hoàng Tiến. Tôi xin có một số ý kiến trao đổi với tác giả như sau:
Tác giả Hoàng Tiến đã có sự ngộ nhận khi cho 4 câu thơ:
Tác giả Hoàng Tiến đã có sự ngộ nhận khi cho 4 câu thơ:
Xuân du phương thảo địa,
Hạ thưởng lục hà trì.
Thu ẩm hoàng hoa tửu,
Đông ngâm bạch tuyết thi.
Hạ thưởng lục hà trì.
Thu ẩm hoàng hoa tửu,
Đông ngâm bạch tuyết thi.
Là “một bài thơ không biết từ đời nào chỉ có 4 câu, nói về bốn mùa
bằng chữ Hán, thường được truyền tụng trong lớp người yêu thích văn
chương ở ta”.
Thực ra, theo thiển ý, 4 câu thơ trên không hẳn nói về một mùa một cách chung chung, mà ca tụng những cái thú thanh tao của kẻ sĩ thời xưa. Ta hãy xem lại phần dịch nghĩa:
Thực ra, theo thiển ý, 4 câu thơ trên không hẳn nói về một mùa một cách chung chung, mà ca tụng những cái thú thanh tao của kẻ sĩ thời xưa. Ta hãy xem lại phần dịch nghĩa:
Mùa xuân dạo chơi trên bãi cỏ thơm,
Mùa hạ thưởng ngoạn ao sen xanh biếc.
Mùa thu uống rượu hoa cúc vàng,
Mùa đông ngâm thơ tuyết trắng.
Mùa hạ thưởng ngoạn ao sen xanh biếc.
Mùa thu uống rượu hoa cúc vàng,
Mùa đông ngâm thơ tuyết trắng.
Bốn câu thơ mà tác giả Hoàng Tiến đã dẫn không phải là một bài thơ riêng rẽ, mà nó nằm trong một tác phẩm thơ năm chữ loại trường thiên, dùng cho học sinh xưa ở bậc ấu học. Tên quyển sách đó là ấu học ngũ ngôn thi, không ghi tên tác giả. Quyển thơ đó còn đưộc gọi là Trạng nguyên thi. Lúc còn nhỏ, tôi đã có dịp đọc nó. Tôi còn nhớ quyển sách bắt đầu bằng 4 câu thơ như sau:
Thiên tử trọng hiền hào,
Văn chương giáo nhĩ tào.
Song tiền cần khổ học,
Duy hữu độc thư cao.
Văn chương giáo nhĩ tào.
Song tiền cần khổ học,
Duy hữu độc thư cao.
có nghĩa:
Vua trọng người hiền hào,
Văn chương dạy dỗ bọn các anh.
Trước cửa sổ, nên siêng năng gian khổ học,
Vì chỉ có đọc sách là cao quý nhất.
Văn chương dạy dỗ bọn các anh.
Trước cửa sổ, nên siêng năng gian khổ học,
Vì chỉ có đọc sách là cao quý nhất.
Nhân sinh quan này là tư tưởng chủ đạo trong thời nho học thịnh hành;
Nhưng thực tế xã hội xưa không cho phép áp đặt chung cho tất cả mọi
người, vì chỉ có một số giai tầng nào có điều kiện dùi mài kinh sử. Thế
cho nên trong dân gian mới có câu: “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông,
nhất nông nhì sĩ” để phản bác lại.
Bốn câu thơ trên ở vào gần cuối quyển sách, sau đoạn nói về cảnh quan Trạng được Vua ban áo mũ, cưỡi ngựa đi dạo chơi ở Kinh kỳ. Về đoạn này, tôi còn nhớ những câu như:
Bốn câu thơ trên ở vào gần cuối quyển sách, sau đoạn nói về cảnh quan Trạng được Vua ban áo mũ, cưỡi ngựa đi dạo chơi ở Kinh kỳ. Về đoạn này, tôi còn nhớ những câu như:
"Hoa cù hồng phấn nữ,
Tranh khán lục y lang."
Tranh khán lục y lang."
Có nghĩa:
Đường hoa các cô gái đánh phấn hồng,
Tranh nhau xem mặt chàng mặc áo xanh.
Tranh nhau xem mặt chàng mặc áo xanh.
Hồi xưa, khi học trò mới tập làm câu đối, thầy đồ chọn vế ra bằng câu
chữ có sẵn trong sách, học trò đối lại cũng phải tìm câu chữ trong các
sách đã học, không được phép tự mình sáng tác ra vế đối lại. Có lần, tôi
đã được thầy đồ ra câu “Tường đầu hoa ảnh động” (ở đầu tường bóng hoa
lay động), tôi đã đối lại “Mã thượng cẩm y hồi” (Ngồi trên mình ngựa,
mặc áo gấm ra về). Cả 2 vế ra và vế đối lại đều ở trong Ấu học ngũ ngôn thi trong 2 đoạn khác nhau. Đối như thế mới coi là trúng cách.
Tôi dẫn chứng như trên, để bạn đọc thấy quyển sách khuyến học này có nhiều câu lời hay ý đẹp. Chỉ tiếc không biết tác giả nó là ai! Có thể, theo thiển ý, quyển sách này do một tác giả Việt Nam viết, tuy nó có đề cập tới “bạch tuyết thi”. Nói cho đúng, Việt Nam cũng có tuyết ở Chapa tuy không nhiều. Cách đây khoảng 10 năm, có một lần tuyết xuống ở Chapa dày tới một nửa mét. Còn ở đỉnh Phăng-xi-păng thì năm nào rét nhiều, tuyết thường phủ trắng ngọn núi. Tuy nhiên, vấn đề này không phải ở chỗ đó bởi vì đúng như tác giả Hoàng Tiến đã nói “Nó mang tính ước lệ trong thủ pháp miêu tả nghệ thuật” có từ lâu đời. Có khách văn chương chưa nếm rượu hoa cúc, chưa nhìn thấy tuyết, nhưng vẫn ca tụng trong thơ văn của mình. Hoa mẫu đơn của Trung Quốc là một loại hoa to, màu sắc đẹp. Có người thấy thi nhân Trung Quốc cho hoa mẫu đơn là tiên của các loài hoa, cũng bắt chước ca tụng hoa mẫu đơn. Người đọc chỉ biết hoa mẫu đơn của Việt Nam là một loại hoa chùm, mọc nhiều ở các đồi núi vùng trung du. ở đồng bằng, người ta cũng trồng để lấy hoa bày bàn thờ cho đẹp vì hoa có màu đỏ tươi (có nơi gọi là hoa trang).
Một lẽ nữa khiến tôi nghĩ quyển thơ do một tác giả khuyết danh của Việt Nam làm vì tôi chỉ thấy nó được bày bán ở phố Hàng Gai Hà Nội, hồi đầu thế kỷ XX cùng với những quyển như Sơ học vấn tân, Nhất thiên tự.. .mà tuyệt nhiên không thấy bán ở các cửa hàng bán sách của những người Tàu ở chợ Lớn - Sài Gòn trước đây.
Còn về ý ông Hoàng Tiến muốn đổi “Xuân du phương thảo địa”thành “Xuân du thanh thảo địa”, thiết nghĩ không nên. Theo phép đối, hương đối với sắc là rất trội, nhiều khi còn hay hơn sắc đối với sắc, hương đối với hương. Ta hãy xem lại cách đối của cụTam NguyênYên Đổ:
Tôi dẫn chứng như trên, để bạn đọc thấy quyển sách khuyến học này có nhiều câu lời hay ý đẹp. Chỉ tiếc không biết tác giả nó là ai! Có thể, theo thiển ý, quyển sách này do một tác giả Việt Nam viết, tuy nó có đề cập tới “bạch tuyết thi”. Nói cho đúng, Việt Nam cũng có tuyết ở Chapa tuy không nhiều. Cách đây khoảng 10 năm, có một lần tuyết xuống ở Chapa dày tới một nửa mét. Còn ở đỉnh Phăng-xi-păng thì năm nào rét nhiều, tuyết thường phủ trắng ngọn núi. Tuy nhiên, vấn đề này không phải ở chỗ đó bởi vì đúng như tác giả Hoàng Tiến đã nói “Nó mang tính ước lệ trong thủ pháp miêu tả nghệ thuật” có từ lâu đời. Có khách văn chương chưa nếm rượu hoa cúc, chưa nhìn thấy tuyết, nhưng vẫn ca tụng trong thơ văn của mình. Hoa mẫu đơn của Trung Quốc là một loại hoa to, màu sắc đẹp. Có người thấy thi nhân Trung Quốc cho hoa mẫu đơn là tiên của các loài hoa, cũng bắt chước ca tụng hoa mẫu đơn. Người đọc chỉ biết hoa mẫu đơn của Việt Nam là một loại hoa chùm, mọc nhiều ở các đồi núi vùng trung du. ở đồng bằng, người ta cũng trồng để lấy hoa bày bàn thờ cho đẹp vì hoa có màu đỏ tươi (có nơi gọi là hoa trang).
Một lẽ nữa khiến tôi nghĩ quyển thơ do một tác giả khuyết danh của Việt Nam làm vì tôi chỉ thấy nó được bày bán ở phố Hàng Gai Hà Nội, hồi đầu thế kỷ XX cùng với những quyển như Sơ học vấn tân, Nhất thiên tự.. .mà tuyệt nhiên không thấy bán ở các cửa hàng bán sách của những người Tàu ở chợ Lớn - Sài Gòn trước đây.
Còn về ý ông Hoàng Tiến muốn đổi “Xuân du phương thảo địa”thành “Xuân du thanh thảo địa”, thiết nghĩ không nên. Theo phép đối, hương đối với sắc là rất trội, nhiều khi còn hay hơn sắc đối với sắc, hương đối với hương. Ta hãy xem lại cách đối của cụTam NguyênYên Đổ:
Bài Thu vịnh:
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Cụ Nguyễn Khuyến đã đối “hoa” với “ngỗng”.
Bài Vịnh Tiến sĩ giấy:
Bài Vịnh Tiến sĩ giấy:
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,
Cái giá khoa danh ấy mới hời.
Cái giá khoa danh ấy mới hời.
Tấm thân xiêm áo đã được đối với cái giá khoa danh. Đối như thế đã không ai chê trách, mà còn được khen là đằng khác!(1).
Người biên tập: Nguyễn Ngọc Nhuận
CHÚ THÍCH
(1) Trong một chuyến đi công tác địa phương (huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải
Hưng), chúng tôi thấy 4 câu thơ “Xuân du phương thảo địa...” được khắc
trên một chậu cảnh làm bằng đá. Vậy nhân đây xin giới thiệu bản rập của
chúng tôi về mấy câu thơ đó, để bạn đọc cùng tham khảo. (Nguyễn Ngọc
Nhuận).
|
|
No comments:
Post a Comment