Thursday, February 29, 1996

CÁCH GHI TỪ DỒNG ÂM TRONG VĂN BẢN NÔM




CÁCH GHI TỪ ĐỒNG ÂM TRONG
VĂN BẢN NÔM
Chúng ta biết rằng giữa hệ thống tiếng Việt và hệ thống tiếng Hán Việt có hiện tượng đồng âm. Những người tạo ra chữ Nôm đã lợi dụng hiện tượng này trong khi mượn những từ Hán việt để ghi những từ thuần Việt (hoặc từ Hán Việt Việt hóa) đồng âm nhưng không đồng nghĩa với chúng. Chẳng hạn dùng chữ 些 ta (ít) để ghi đại từ nhân xưng (ta, chúng ta), dùng một 沒 (mai một) để ghi con số 1. Giới nghiên cứu Hán Nôm vẫn thường gọi đó là lối giả tá, nhưng đúng hơn thì phải gọi là giả tá chính xác. Tuy nhiên, trong thực tế lại còn có những trường hợp không đơn giản như vậy.
Để có thể tạm hình dung một cách cụ thể về loại từ này, chúng tôi xin nêu kết quả điều tra một số chữ qua những tác phẩm Nôm tiêu biểu hiện đang được lưu giữ tại Viện nghiên cúu Hán Nôm như sau:
Trên nguyên tắc vừa nêu, nếu đem liên hệ giữa một bên là những tiếng Hán Việt được vay mượn với một bên là những tiếng Việt đồng âm thì trên đại thể có thể phân biệt hai loại như sau:
1. Không có sự phân biệt trên mặt chữ
Đây là cách ghi chiếm vai trò chủ đạo trong các tác phẩm. Điều đó cho thấy đối với chữ Nôm, chủ trương ghi đúng mặt âm là rất quan trọng. Khi vay mượn chữ Hán ở đây người ta không cần lưu ý đến mặt nghĩa của chúng mà chỉ cần âm đọc ăn khớp với tiếng Việt cần ghi. Ví dụ như các trường hợp “ta”. “một” ở trên được Nguyễn Trãi dùng trong Quốc âm thi tập:
Quê cũ nhà ta thiếu của nào
(Mạn thuật 13)

Một cày một cuốc thú nhà quê<
(Thuật hứng 3)

Ta nhận thấy ở các cột 1, 3, 9, 10 có tình hình thống nhất cách ghi từ đầu đến cuối. Như vậy có nghĩa là khi chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, nhiều chữ vẫn được giữ nguyên. Bên cạnh đó, có trường hợp thay đổi cách ghi nhưng không thay đổi về kiểu loại, như chữ “một” ở cột 6 chỉ có thể xem là sự thay đổi âm phù từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau để cho phù hợp với sự diễn biến về mặt ngữ âm. Có những trường hợp khi thay đổi cách ghi, dẫn đến thay đổi về kiểu loại (từ chữ vay mượn sang chữ tự tạo) như đã thấy ở các cột 2, 4, 5. Các chữ ở các cột 7, 8 là những trường hợp còn lưu lại được những dấu vết của âmViệt cổ chúng tôi sẽ đề cập tới ở phần sau.
2. Có sự khác biệt trên mặt chữ
Loại này được hình thành bởi người viết đã gia thêm một bộ phận chỉ nghĩa nữa bên cạnh chữ Hán được vay mượn. Ví dụ chữ “đồn” 吨 được ghi bằng (khẩu + đồn) trong câu:
Đồn rằng trên quận Mê Linh.
Họ Trưng dòng dõi trổ sinh đôi nàng
(Thiên Nam ngữ lục,
Quyển thượng)
Hoặc chữ “chợ” 悪 được ghi bằng chữ (thị + trợ) trong câu:
Vì ai cấm chợ ngăn sông
Để cho dứt nẻo quan thông đôi nhà
(Đại Nam quốc sử diễn ca,
tr.8)
Đó là những chữ được tạo ra về sau. Trong các tác phẩm Nôm thời Lê sơ chủ yếu vẫn là mượn thẳng chữ Hán để ghi tiếng Việt, từ thời Lê mạt đến Nguyễn thì những chữ tự tạo trên dần dần tăng lên. Đối với một số tác phẩm đã trải qua sao chép nhiều lần như Quốc âm thi tập, Hồng Đức Quốc âm thi tập, Thiên Nam ngữ lục... có một số trường hợp ghi theo lối nước đôi có thể là do người sao chép đời sau thêm vào cho phù hợp với cách ghi đương thời.
Điểm nổi bật của chữ thuộc các cột 8, 9 là tác giả dùng những chữ Hán có phụ âm đầu /1/ để biển âm /S/ tiếng Việt, mặc dầu trong từ điển Hán đã có sẵn những chữ có phụ âm đầu / S / như: “sân” “sao”... Ví dụ: chữ “sân” được ghi bằng (thổ + lân) trong câu:
Mẹ về vừa đến ngoài sân,
Tra tay mở cửa bước chân vào nhà.
(Thiên Nam ngữ lục,
Quyển hạ)
Cách ghi này là nhất quán đối với các trường hợp ở cột 7. Chữ “sao" được ghi bằng (tinh + lao) trong câu:
Trăng bạc sao thưa chim anh ới,
Nào đâu là chốn chẳng thương nàng
v.v.
(Hồng Đức Quốc âm thi tập,
tr.139)
Theo một số nhà nghiên cứu thì ở đây có vấn đề về ngữ âm lịch sử tiếng Việt. GS. Hoàng Thị Châu cho rằng phụ âm /S/ có thể ngày xưa chính là tổ hợp phụ âm đầu Kh1, K1 như một số phương ngữ Mường còn gặp(1) Chúng ta hãy thử so sánh:

TB








No comments:

Post a Comment